Đào Ngọc Phong


Một mẩu chuyện đời:

Ước mơ truyền thừa

   

PHẦN I

Múa gậy đêm trăng – 1995

Chàng phóng tầm mắt qua khung cửa kính của phòng giám đốc, biển Thái Bình mênh mông hun-hút; tít bên kia là Sài Gòn mù tăm. Đâu ngờ mình đã xa thủ đô thân yêu mười lăm năm rồi; vượt biên đến đảo năm 1980, định cư tại Mỹ 1982, học xong bằng kỹ thuật viên cơ khí hàng hải 1985, mở một xưởng nhỏ sửa chữa tàu thuyền du lịch ven biển đến nay đã mười năm.

Gọi là “giám đốc” tiện giao dịch xã hội, thực ra cơ sở tư nhân do chàng làm chủ chỉ thuê hơn mười thợ máy tàu, đến lúc này tạm đủ cho nhu cầu sửa chữa. Nhưng ước mơ của chàng từ thiếu thời to lớn hơn nhiều, mơ đóng được một chiếc tàu buôn có thể đi từ Sài Gòn tới Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Đại Hàn, Nhật, chưa dám mơ đi khắp thế giới. Năm nay chàng đã năm mươi tư tuổi rồi, chắc là khó có thể thực hiện được điều ước mơ. Tuổi đời ngoài năm mươi đã là già chưa? Ngày xưa ở Việt Nam thân phụ chàng mới năm mươi lăm mà người ta đã gọi bằng cụ; bây giờ trong xã hội Mỹ tuổi năm mươi mới là tuổi chín mùi xây dựng sự nghiệp vững-vàng. Phải chi mình có một đứa con trai để thừa kế giấc mơ. Có lẽ số mình cô quả không có con trai nối dõi dòng họ. Mình đã lập gia đình năm 1972 nhưng một lần xảy thai, vợ mình không đậu thai được nữa, cho đến khi mình đi tù cải tạo được một năm thì cô ấy đã bỏ mình theo gia đình sang Pháp định cư.

Cha cô ấy, tức nhạc phụ mình, từng là một luật sư mở văn phòng tại Sài Gòn kiếm nhiều tiền; sau ngày 30 tháng Tư ông bỗng xuất hiện là một chức sắc cao cấp trong Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Hóa ra ông đã bí mật theo Cộng Sản từ lâu. Nhưng mình ở trong tù được một năm thì có tin chính phủ này đã bị Cộng Sản Bắc Việt giải thể khiến nhiều thành viên vỡ mộng; mang danh là trí thức mà bi lừa. Những thành viên trong chính phủ đều tốt nghiệp đại học về nhiều ngành, triết học, luật hoc, kỹ thuật, y khoa... phần lớn thành danh vào cuối thời thực dân Pháp, chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp sâu đậm, tư tưởng thiên tả ngây thơ, sống no đủ trong chế độ miền Nam nhưng tự cho là tiến bộ, ca ngợi cách mạng cộng sản. Khi nhận ra họ chỉ là bù nhìn, xong việc bị vứt bỏ vào sọt rác thì uất hận. Bố vợ mình tìm cách mang cả gia đình trốn sang Pháp; vợ mình chỉ thăm nuôi mình một lần duy nhất. Hy vọng mong manh cô vợ sau của mình có thể sanh được một con trai, nhưng bây giờ cô ấy cũng lưu lạc đâu đó.

Xa quê hương bao nhiêu năm lo học hành tìm sinh kế bù đầu mình chẳng nghĩ tới việc vợ con, nhưng hằng đêm trước khi ngủ mình đều ngồi tĩnh tâm trước bàn thờ tổ tiên lâm râm khấn nguyện thầm tạ tội với bố mẹ, vì năm 1979 ông bà theo nhau qua đời mà không có đứa con nào lo đám tang; hai đứa em gái đã theo chồng vượt biên từ năm trước, con trai duy nhất là mình lại kẹt trong tù, may có ông chú đứng ra làm hậu sự. Mặc cảm tội lỗi đè nặng trong tâm can; nhớ có một đêm trong tù nằm mơ thấy bà cụ đi chợ về giữa đường tự nhiên ngã quỵ nằm đè lên cái giỏ đi chợ; sau này so sánh đối chiếu mới lấy làm lạ bà cụ qua đời đúng vào cái đêm mình nằm mơ. Người ta thường nói đó là thần giao cách cảm của tình mẫu tử.

Trên bàn thờ tổ tiên, mình để sáu bức hình: ông bà cố, ông bà nội, bố mẹ. Mình quyết định lấy cái đêm nằm mơ làm ngày giỗ chung hàng năm. Hôm nay là ngày giỗ chung, mình cho nhân viên nghỉ hết, để một mình đến xưởng, yên tĩnh ngồi nhìn về quê hương xa xăm bên kia bờ Thái Bình tưởng niệm tổ tiên.

Ngoài bố mẹ, ông nội là mẫu người lý tưởng mà mình coi như một tấm gương để soi mỗi khi gặp khó khăn trong đời. Mẹ kể vào năm mình ba tuổi ở nhà quê cùng với ông nội, tự nhiên bị chứng bệnh bụng trướng lên to như trái banh; bao thầy lang đều bó tay, mẹ buồn quá nói với ông nội: “ Nhà con bận việc trên tỉnh, mà con chữa cho cháu mãi không khỏi, thôi thì Thầy lo cho cháu, con không dám nhìn thấy nó ra đi”.

Ông nội nói: “Nếu anh chị dành quyền cho Thầy thì Thầy sẽ có cách của Thầy”. Mẹ ôm mình khóc mãi rồi gạt nước mắt lên tỉnh. Ông nội cho mình uống một lọ thuốc nước trong vòng ba ngày, thì mình bắt đầu tiêu chảy thải ra một đống sán lãi, bụng xẹp dần; đến ngày thứ năm thì mình kêu đói bụng, ông nội cho ăn cháo dần dần và một tuần sau khỏi bệnh ăn uống chạy nhảy như thường. Ông nội cho người lên tỉnh báo tin, bố mẹ tức tốc về quỳ xuống lạy ông nội coi như một vị thánh đã cứu sống thằng bé. Ông nội nói: “ Các thầy lang cứ chữa theo sách vở, còn Thầy chỉ theo kinh nghiệm đời. Thằng bé ăn kẹo bánh dơ dáy mà sinh ra giun sán, chỉ một ve thuốc giun là xong”.

Đó là vào năm 1944; bố mình đã đậu bằng thành chung Pháp, làm thư ký trong tòa án tỉnh Thái Bình mấy năm nay rồi. Mẹ và ba con ở nhà quê với ông nội; mẹ có một quầy bán đồ tạp hóa trong chợ làng, kiếm tiền đủ chi dùng cho bốn mẹ con. Sau này nhờ bố kể về cuộc đời của ông nội, mình mới hiểu tại sao từ một anh bạch đinh tứ cố vô thân, ông nội trở thành ông địa chủ được dân làng kính yêu,trọng vọng.

Cụ cố sanh năm 1870 tại huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên, được học chữ Nho, chữ Nôm nhưng không muốn thi cử ra làm quan; khi mười tám tuổi bỏ làng đi theo tàu buôn bôn ba qua Singapore, Hồng Kông cất hàng về bán cho những cửa tiệm trên Hà Nội và nhiều tỉnh thành lớn. Trong cuộc sống nay đây mai đó, năm hai mươi tuổi cụ cố lấy vợ và sinh ra ông nội. Thời gian đó, 1890, trong nước dã có nhiều cuộc kháng chiến chống Pháp; khi cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của cụ Nguyến Thiện Thuật tan rã vào năm 1889 thì cụ cố đưa vợ con vào chiến khu Yên Thế của cụ Hoàng Hoa Thám, trở thành một trong những cận vệ của cụ Đề. Như vậy, ông nội đã sống trong môi trường kháng chiến từ thuở sơ sinh. Lớn dần lên, ông nội được cụ cố dạy văn dạy võ, tham gia vào đoàn quân chiến đấu suốt từ 1890 đến khi cụ Đề bị giết năm 1913 và chiến khu tan rã. Hai cụ cố hy sinh trong trận cuối cùng.

Lính của cụ Đề tan tác mỗi người một ngả trốn tránh những cuộc ruồng bắt của quan quân, vừa của triều đình vừa của thực dân Pháp. Ông nội lúc ấy đã hai mươi ba tuổi, lang bạt từ làng này qua làng nọ, cuối cùng đến xin tạm trú trong một làng nhỏ ven tỉnh Thái Bình. Dân làng cho tạm trú nhưng không cho ở trong làng mà bắt phải ở ngoài nghĩa địa. Ông nội người nhỏ con nhưng luyện võ từ nhỏ nên sức khỏe dẻo dai vô cùng, xin dân làng làm mọi việc nặng nhọc nhất để kiếm sống. Thực ra ông nội có một số vàng trong tay nhưng tuyệt đối không lộ ra, vì theo lời dặn của cụ cố, muốn sống sót để sanh con nối dõi phải hết sức nhẫn nhục không được phô trương. Khi biết mình và bà cố sẽ chết theo cụ Đề, thì cụ cố đã nhét một túi vàng trong áo của ông nội dặn dò mọi việc rồi bí mật cho lính thân cận dẫn ông nội thoát vòng vây.

Ông nội dựng một túp lều gần nghĩa địa, hàng ngày vào làng lao động từ nhà này qua nhà khác, cần cù khiêm tốn khéo léo mua chuộc cảm tình của mọi người. Ba năm ròng rã, ông nội đã dành dụm một số vốn, tính sẽ theo gương cụ cố vào nghề buôn. Ông nội kết giao với những người nghèo hèn nhất trong làng, như anh mõ, những tá điền cùng khổ. Ông kín đáo giúp tiền họ giải quyết nhiều khó khăn cho họ. Qua anh mõ, ông nội biết ông tiên chỉ, ông lý trưởng, ông trương tuần thích những món gì thì kín đáo nhờ anh mõ “biếu xén”. Nhờ thế, khi ông nội xin phép làng cho trải một tấm chiếu trong chợ làng để bán hàng kim chỉ thi ông lý chấp thuận.

Từ đó ông nội sắm một đôi bồ, hàng tuần lên chợ huyện mua hàng kim chi linh tinh, cái gương, cái lược, cái kéo... Bố kể ông nội người nhỏ thó mà gánh đôi bồ nặng lên thuyền xuống bến như không. Mọi lễ lạc trong làng hàng năm ông nội đều hào phóng góp tiền bạc khiến cho dân làng dần dần coi ông như đã nhập tịch. Tên ông khai là Thoại; lúc đầu họ gọi “xách mé” là “lái Thoại”, rồi anh Thoại một cách thân mật.

Năm năm qua đi, nhân trong làng có một gia đình túng thiếu muốn bán một mảnh vườn nhỏ, anh mõ biết được mách cho ông nội tìm cách mua để khỏi phải sống bên nghĩa địa. Thế là ông nội bí mật bán một ít vàng, qua tay anh mõ lo lót các chức sắc mua được mảnh vườn trong lũy tre làng. Ông lại được phép dựng một quầy gỗ bày hàng, nên việc bán buôn càng ngày càng phát đạt. Ông tung tiền giúp đỡ mọi người gặp khó khăn. Bây giờ ai gặp ông cũng vui vẻ: “Chào bác Thoại ạ”.

Đó là năm 1918, ông nội đã hai mươi tám tuổi, được người mai mối lấy một cô thợ dệt vải nết na hiền thục, sinh cho ông nội hai trai một gái. Vậy là ông đã trả hiếu cho cụ cố có con trai nối dõi dòng họ. Bố mình là con trai cả, được ông nội cho lên tỉnh học chữ quốc ngữ và chữ Tây vì thấy anh cả thông minh hợp với nghề chữ nghĩa hơn là thương mại.

Ông bà nội đều giỏi, kiếm tiền nhiều, trong mười lăm năm đã tậu được mấy mẫu ruộng, mở rộng ngôi nhà, thuê gia nhân, thuê tá điền. Khi bố mình đậu bằng thành chung và làm trong tòa án tỉnh, về làng xây ngôi nhà tây thì địa vị của ông nội trong làng được nâng cao; từ “lái Thoại”, “anh Thoại”, “bác Thoại”, bây giờ dân làng chào ông nội “Chào Ông Cả ạ”. Văn hóa Việt Nam cũng lạ, khi tỏ lòng kính trọng ai, người ta không gọi tên thật mà theo thứ bậc hay chức tước.

Năm 1945, mình mới bốn tuổi nhưng ký ức về trận lụt tràn về làng vẫn in sâu trong tâm não; ngôi nhà tây có nền cao tới cả thước mà nước mấp-mé. Sau này mẹ kể nhiều gia đinh nghèo nhà ở những vùng trũng bị ngập phải bồng bế con cái đến nhà ông nội tá túc.

Khi nước rút hết, nhà cửa họ tan hoang, mà nạn đói lan khắp vùng, không còn gì để ăn phải đem bất cứ vật gì còn lại đi cầm cố với các nhà giàu, ngay cả những đồ thờ bằng đồng. Ông nội giữ đồ của họ và giúp họ tiền bạc, thóc gạo hậu hĩ; ít lâu sau họ đến xin chuộc lại thì ông nội trả lại không lấy tiền lời.

Cuối năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt Pháp nổ ra thì nhiều gia đình thành thị tản cư về làng. Mẹ kể, bây giờ người Nhật đã thua trận rút về nước rồi, dân mình sống giữa hai gọng kìm Pháp và Việt Minh nên bố thật là khó xử; ban đêm cán bộ Việt Minh về bắt giết những người theo Pháp; ban ngày quân Pháp lại vây làng lục tìm du kích. Làng này được gọi là làng hội tề, nửa trắng nửa đen; lại còn nạn trộm cướp nổi lên cướp phá làng mạc chợ búa ghe thuyền không có luật pháp nào che chở.

Vào năm 1948, mình đã 7 tuổi, cũng đã sớm khôn mơ hồ thấy đời sống bất an của mọi người. Một đêm mẹ ôm mình và hai em gái thì thầm: “Bây giờ máy bay Pháp hay bỏ bom những làng nghi có bộ đội Việt Minh, mà làng nào chả có; mẹ lo cho các con, nhưng chưa liên lạc được với bố các con để tính kế lên tỉnh; đêm qua nghe tin làng bên cạnh có một toán cướp vào cướp mấy nhà giàu; mẹ lo nhà ông nội chúng nó cũng để ý”.

Mình thì-thào vào tai mẹ: “Mẹ đừng lo, ông nội giỏi võ lắm”; mẹ lấy tay bịt miệng mình “Chết... cấm nói cho ai biết nhá... Mà sao con biết?” Mình khẽ kể cho mẹ nghe: “Đêm rằm vừa qua, khoảng hai giờ sáng mắc tiểu thấy trới sáng trăng con ra vườn; vừa đến cửa thấy ông nội đang múa võ ở cuối vườn, cây gậy dài bằng cái đòn gánh bồ hàng; con nép bên cửa xem ông múa hay lắm”.

“Bố kể ông nội sinh ra và trưởng thành trong chiến khu của cụ Đề Thám suốt hai mươi ba năm, được ông cố và các chiến sĩ dạy văn võ; khi chiến khu tan rã thì lính của cụ chạy trốn khắp nơi vì bị quan quân lùng bắt; ông nội đến làng này phải dấu tông tích mấy chục năm nay. Không ai biết ông nội giỏi võ giỏi văn, chỉ là một lái buôn tầm thường. Con không được nói cho bất cứ ai, vì nguy hiểm đến ông nội và cả gia đình mình”.

Mình còn nhớ vừa nghe mẹ kể thì sợ toát mồ hôi; họ sẽ bắt tù ông nội, bố mình đang làm cho Pháp cũng sẽ bị tù, làm sao ba mẹ con sống đây; chẳng phải mình có trí khôn trước tuổi, mà có lẽ do bản năng sinh tồn; mình ôm chặt mẹ “Con hứa, con hứa”.

Nhưng hoạt cảnh ông nội múa võ đêm trăng đã gắn chặt trong tâm não mình; mình mơ ngày sau trưởng thành sẽ sống như hai ông bà cố, như ông nội; mình không thich đời công chức như bố mình. Hình như ba vị đó là biểu tượng của một đời sống hùng tráng, tự do, tự lập không phụ thuộc đồng lương của người khác. Hình ảnh những chuyến viễn du Singapore, Hong Kong, Nhật Bản hấp dẫn mình hơn là chiếc bàn giấy. Tự nhiên mình nghĩ một lúc nào sẽ xin ông nội dạy võ và dạy cách buôn bán như ông cố ngày xưa. Hình ảnh những chiếc tàu buôn cứ lảng vảng trong tâm trí. Mình sẽ... mình sẽ... làm một chiếc tàu buôn cho riêng minh, tự mình lái đi đến đâu mình thich.

Những năm 1948-1949, mình đuọc đi học chữ quốc ngữ ở đình làng, có khi đang học thì máy bay rít trên trời, xẹt qua một vòng rồi một tràng liên thanh rải xuống; trẻ con và thầy giáo chui vào mấy bệ thờ.

Cả tiếng đồng hồ sau mới có lệnh cho học sinh chạy nhanh về nhà. Mình dắt hai đứa em gái không kịp mang bút mực sách vở lao nhanh trên đường, gặp mẹ từ bờ ao chạy ra ôm các con khóc ròng như tìm lại được châu báu. Ông nội tức tốc cho người lên tỉnh thúc bố mình lo cho bốn mẹ con rời làng, vì có tin bộ đội Việt Minh sắp về lập ủy ban hành chánh, lúc ấy rất khó đi thoát. Sở dĩ ông nội biết tin là do những người nghèo từng chịu ơn ông nội bây giò trở thành những cán bộ xã nằm vùng đã bí mật báo.

Ngay tối hôm sau cả nhà đã thấy bố xuất hiện trong bộ áo nông dân cùng bốn ngươi khác nữa thu dọn nhanh chóng quần áo cho bốn mẹ con, mỗi người cõng một đứa trẻ ra bờ sông có thuyền chờ sẵn.

Sau này bố mới kể, bốn người lạ đó là lính của ông nội xưa kia từng hoạt động trong chiến khu Hoàng Hoa Thám. Sau khi trở nên giàu có, ông nội đã đi dò tìm những chiến hữu cũ chu cấp tiền bạc cho họ, vì thế khi cần là họ ra tay giúp liền. Họ cũng có những tin tình báo nhanh lẹ lắm khiến cho ông nội kịp thời lo việc.

Vào năm 1950, gia đình đoàn tụ trên tỉnh Thái Bình, ba anh em được tiếp tục việc học. Bố nói bây giờ chúng ta đã có Chính Phủ Quôc Gia Việt Nam lo mọi việc cho dân, từ giáo dục, y tế, kinh tế, quân sự, tòa án... nhưng bên Tàu đảng Cộng Sản đã thống nhất toàn bộ đất nước lại toan tính chiếm Việt Nam như đã chiếm Tây Tạng, nên đời sống sẽ rất khó khăn. Đầu năm 1951 bố tìm cách thuyên chuyển về huyện Văn Giang là quê nội, hy vọng an ninh hơn và gần thủ đô Hà Nội hơn. Chính ông nội lấy tin từ các chiến hữu khuyên bố.

Bố làm thư ký hành chánh trong quận đường Văn Giang, thuê một nhà nhỏ gần chợ huyện cho mẹ tiếp tục bán hàng. Mình đã mười tuổi rồi, cảm thấy khôn ngoan hiểu biêt việc đời nhiều hơn, giúp mẹ bán hàng kiếm thêm vào đồng lương công chức của bố; vả lại mình có mộng sẽ theo nghề buôn của ông cố và ông nội nên xông-xáo ra chợ sau giờ học.

Tưởng là an ninh hơn Thái Bình, nhưng được một thời gian thì đã có những cuộc du kích bắn sẻ các đội lính quốc gia đi tuần tiễu. Một buổi sáng sớm mình ra chợ dọn hàng bỗng thấy một toán lính quốc gia khiêng ba cái cáng từ làng về quận đường; người ta xì-xào đêm qua lính quốc gia bắn chết hai du kích, nhưng bên quốc gia có một người chết. Trong lòng mình bỗng dưng dậy lên một câu hỏi: “Cả ba người đều là người Việt cả mà, sao thế nhỉ, ai đúng ai sai mà vì lý do gì?”. Câu hỏi đó day-dứt trong tâm không nguôi trong nhiều năm sau.

Mặc dù bận bịu học hành và buôn bán, mình vẫn nghĩ đến ông nội, lo cho ông, không biết ông có kịp lên tỉnh; mẹ nói ông còn ruộng vườn nhà cửa, nhưng ông tính toán giỏi lắm; ngay việc mẹ con mình thoát lên tỉnh cũng là do ông sắp xếp đấy.

Lời mẹ nói quả đúng; trong hơn một năm, Việt Minh chưa chiếm được làng vì quân đội quốc gia hành quân liên miên bảo vệ những làng ven tỉnh. Cuối năm 1951, chú hai báo tin ông đã lên tỉnh.

Hóa ra ông đã thu xếp bán rẻ mọi thứ cho các nhà giàu trong làng, lên tỉnh mua một căn nhà nhỏ lại mở cửa hàng tạp hóa; hình như ông không ngồi yên được; lúc nào cũng làm việc, ông không muốn lệ thuộc con cái; gương tự lập của ông luôn soi sáng mình trong đời.

Một lần ông từ Thái Bình lên Văn Giang gọi là thăm các cháu; ông mặc bộ quần áo nâu bạc mầu, đi đôi dép rẻ tiền, đội chiếc nón lá mốc meo. Suốt một tuần mỗi ngày ông đi bộ vào thăm một làng; trước khi về lại Thái Bình, ông bàn bạc to nhỏ với bố mẹ. Sau đó mẹ rỉ tai cho mình biết ông nội cho một số tiền để bố lo chạy-chọt về Hà Nội làm việc.

Bố đã có giấy tờ thuyên chuyển nhưng chưa kịp đi thì xảy ra biến cố. Đầu năm 1952, trong chợ xì xào bàn tán chiến tranh Pháp-Việt Minh càng ngày càng gay cấn. Hàng ngày bố làm việc đến năm giờ chiều, về nhà nét mặt đăm chiêu. Bỗng một hôm ba giờ chiều bố hấp tấp về bảo mẹ con: “Người của ông nội mật báo cho bố biết quân Việt Minh có thể đánh quận đường nay mai, bốn mẹ con phải lập tức sửa soạn nhanh quần áo cần thiết ra xe lên Hà Nội ngay, tạm trú tại nhà bạn của bố.”

Cả gia đình từng người thong thả ra xe đậu sẵn ở cửa chợ. Về sau này mình mới biết bác tài xế là thủ hạ của ông nội.

Quả nhiên ngay đêm đó Vịêt Minh đánh quận đường, nhưng bên quốc gia hình như cũng biêt trước nên chuẩn bị phòng thủ, vừa có quân tiếp viện. Hôm sau báo chí tường thuật vụ tấn công thất bại của Việt Minh, tuy vậy khu chợ bị cháy, và quận đường bị hư hại nhiều vì đạn pháo; ông quận trưởng an toàn, xác người nằm la liệt trên đường. Mãi nhiều năm sau, bố kể gặp ông quận trưởng ở Sài Gòn cùng gợi lại cuộc tấn công dó; ông quận trưởng nói cho đến bây giờ ông vẫn có nghi vấn trong đầu ai là người báo tin cho ông Việt Minh sẽ tấn công quận với số quân gấp đôi. Hồi đó ông đã phối kiểm với ban an ninh tỉnh và xin viện binh, tương kế tựu kế, nhờ đó bên địch thất bại, tổn thất rất nặng.

Trong lòng mình càng ngày càng thấy ông nội giỏi quá, lo cho gia đình từng bước từng bước theo thời cuộc. Nhưng mình không thể hiểu tại sao ông nội lại có nhiều thủ hạ bí mật thế. Bố kể những thủ hạ đó đều là những chiến sĩ cũ của cụ Đề, họ trung kiên chỉ theo một lãnh tụ là cụ Đề mà ông nội là một trong nhiều cận tướng sống sót; họ chỉ yêu dân tộc, không theo bên này hay bên kia, âm thầm sống bằng những nghề khiêm tốn.

Bố được thuyên chuyển về làm một chức chủ sự phòng nhân viên Bộ Y Tế trên Hà Nội. Ông nội nói không nên mua nhà, chỉ nên tạm ở thuê xem tình hình thế nào. Ôi dân quê bọn mình lên thủ đô giống như lên cõi tiên; ban đêm đèn điện sáng rực, phố Hàng Đào nhộn nhịp, anh em mình mê quán kem Mụ Béo gần Bờ Hồ. Bố thuê một anh sinh viên về dạy kèm cho mình để luyện thi vào lớp đê thất trường trung học Chu Văn An. Bố nói rất hãnh diện vì con được học trường mang tên Chu Văn An, con hãy đọc kỹ tiểu sử của tiên sinh rồi bố sẽ giải thích thêm. Vào ngày nghỉ Tểt, bố khảo bài: “Con tóm tắt tiểu sử cụ Chu Văn An, và đặt câu hỏi”. “Con thắc mắc tại sao Vua Trần Dụ Tông không chém bảy vị quan mà Cụ Chu Văn An kết tội là xấu?”. “Vì Vua ham mê tửu sắc, bị bọn ninh thần xúi tăng thuế dân lấy tiền xây cung điện hoang phí, cướp đất của dân. cả hoàng triều biến thành sòng bài, tửu điếm. Cụ Chu Văn An bèn treo mũ từ quan về quê dạy học sống đời thanh bần. Cuối cùng nhà Trần tiêu vong vào tay cha con họ Hồ dòng dõi tỉnh Chiết Giang bên Tàu, đổi quốc hiệu Đại Việt thành Đại Ngu; đây bố mới mua cuốn “VIỆT NAM SỬ LƯỢC” của cụ Trần Trọng Kim, con phải đọc hết, đến hè bố sẽ khảo bài”.

Mình cầm cuốn sách mà run, làm sao trong mấy tháng mà thuộc được. May mắn thay, cuộc khảo bài không bao giờ xảy ra, vì bố bận liên miên tìm phương tiện vào Nam khi tin tức về chiến tranh càng ngày càng bi quan.

Khi chiến trường Điện biên Phủ kết thúc vào tháng 5 năm 1954, mình vừa xong lớp đệ thất niên khóa 1953-1954, thì anh sinh viên có lệnh gọi nhập ngũ lớp sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Lúc tiễn anh đi, cả nhà đều khóc, làm như vào lính là vào cõi chết. Cả nhà đều coi anh như ân nhân vì đã luyện cho mình đậu vào trường công nổi tiếng. Không ngờ mười mấy năm sau anh lên đến chức đại tá binh chủng nhẩy dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được mệnh danh là mãnh sư trên chiến trường Bình Định.

Mình thấy bố rất căng thẳng, nói với mẹ sắp xếp tiền bạc quần áo gọn gàng có thể ra đi bât cứ lúc nào. Ông nội lên Hà Nội bàn bạc với cả nhà. Ông nói: “Anh chị cứ lo cho các cháu vào Nam trước, mang tiền này mua nhà ổn định cho các cháu học đến nơi đến chốn. Thầy đã bán nhà ở Thái Bình sẽ đi sau cùng chú hai”.

Mình thấy cứ khi nào có chuyện quan trọng là ông nội xuất hiện, đưa tiền bạc cho bố; hình như ông luôn luôn đoán trước việc đời, mà lúc nào ông cũng chỉ mặc quần áo lái buôn đơn giản, bộ quần áo nâu bạc mầu gió sương. Ngày ông trở về Thái Bình, mình níu áo ông hỏi: “Vào Nam là đi đâu hả ông?” “Là vào Sài gòn cháu à, mình phải vào đó mới sống được, các cháu cứ vào trước ông nội sẽ vào sau”. Hồi đó, ông nội đã sáu mươi tư tuổi.

Khoảng tháng 9-1954 bố nói trường Chu Văn An cùng nhiều trường khác đã dọn vào Sài Gòn, gia đình mình chuẩn bị đi máy bay vì bố đã lo được vé rồi, nhưng phải giữ kín không cho ai biết. Mình phục bố quá, ước mơ bao năm được đi máy bay sắp thành hiện thực. Mình cảm thấy bố không phải là một công chức bình thường. Ở tuổi mười ba, mình chưa đủ kiến thức và lý trí để hiểu rõ tại sao cùng người Việt lại bắn giết nhau như ở quận đường Văn Giang.

Ông cố và ông nội theo cụ Đề chống người Pháp thì mình hiểu, nhưng sau này ông nội lại chống Việt Minh mà hỗ trợ cho chính phủ Quốc Gia lại cùng phe với nguòi Pháp, thì mình mù tịt. Có lẽ bố mình bắt đọc bộ sử của Cụ Trần Trọng Kim để mở mang đầu óc của mình chăng?

Còn việc anh sinh viên kèm học cho mình vào Nam học trường sĩ quan của chính phủ Quốc Gia như bố nói khiến mình thấy rõ dần lằn ranh phân biệt giữa bên Việt Minh và bên quốc gia. Bây giờ ông nội cho tiền bố mẹ vào Nam lập nghiệp dặn dò cho các cháu học đến nơi đến chốn, thì hẳn ông nội tin tưởng vào Nam là đúng rồi.

***

Trong hai tháng tạm cư tại trường trung học Petrus Ký gia đình mình và mấy chục gia đình khác đã được Tổng Ủy Di Cư tiếp tế thức ăn quần áo thuốc thang đầy đủ chờ được phân phối về những vùng kinh tế; bố đã liên lạc được với Bộ Y Tế và sẽ nhận việc tại Sài Gòn nên bố vào khu Bàn Cờ gần trường tạm thuê một căn nhà nhỏ; không ngờ chủ căn nhà này di cư qua Pháp bán lại cho bố; thế là gia đình định cư tại đây cho đến hai mươi năm sau.

Khu Bàn Cờ này gồm phần lớn là dân lao động, chi có nhà bố là công chức; dân trong khu tỏ ra hiếu khách, hay chạy qua chạy lại giúp đỡ thăm hỏi. Lương của bố tuy ít nhưng ban đầu cũng tạm đủ; mẹ lại tính thuê sạp bán hàng tạp hóa như hồi xưa. Thế là ba anh em mình vừa đi học vừa ra chợ phụ mẹ, đời sống thật an bình hạnh phúc, chỉ trông chờ tin ông nội và gia đình chú hai. Mình và hai em gái được đi học lại.

Hàng ngày đạp xe đạp đi học giữa đường phố đông đúc mình cảm thấy trưởng thành dần, mua báo đọc theo dõi tin tức thời sự mới thấy lo cho ông nội; báo chí nói dân chúng có 300 ngày kể từ 20 tháng 7 năm 1954 để tùy ý chọn nơi cư ngụ, mà bây giờ đã đầu năm 1955 chưa nghe tin gì về ông nội; mình về đưa tờ báo cho bố, thì bố nói đã lên Phủ Tổng Ủy Di Cư nhiều lần theo dõi.

Vào tháng hai trước Tết âm lịch một tuần bố báo tin mừng: Tổng Ủy Di Cư cho biết đã tìm ra danh sách ông cụ và hai vợ chồng chú hai đang ở trại tạm cư Phú Thọ. Mình bèn theo bố di gặp. Vừa thấy ông, vẫn trong bộ đồ nâu bạc, mình ôm chầm lấy ông khóc thổn thức:“Cháu nhớ ông quá, cháu chỉ lo ông bị Việt Minh bắt”; ông vuốt tóc mình cười hiền hậu: “Cháu đã trưởng thành nhiều; Không phải Việt Minh, mà là cộng sản”. Mình chẳng hiểu gì.

Tết này là Tết đoàn tụ của gia đình, chỉ thiếu bà nội vì bà bị bạo bệnh mất hai thâng trước khi ông đi.

Ông nội kể: “Mặc dù hiệp định cho phép dân tự do chọn nơi cư trú trong vòng ba trăm ngày nhưng từ Thái Binh ra Hải Phòng có tàu lớn chở người di cư vào Nam trên đường có bao nhiêu trạm công an kiểm soát; ai bị coi là tìm đường vào Nam sẽ bị bắt tù cải tạo trong rừng sâu. Những người dẫn đường cho ông nội biết rõ những chốt chặn, dẫn đi vòng vo nên mất thời gian, có mấy chục cây số mà đi bộ, lẩn tránh không dám vào làng, ngủ bờ. ngủ bụi, cả tuần lễ mới vào được tỉnh lỵ, lại chờ danh sách lên tàu cả nửa tháng” “Ông nội nói tù cải tạo là sao?” “Là tù không có án phạt bao nhiêu lâu, có thể một năm được thả ra, có thể mười mấy năm, không có tòa án nào xét xử”.

Bố nói: “Nếu không có những người dẫn đường giỏi thì bị bắt như chơi, thôi nhờ phước đức tổ tiên mà ông và chú thím hai đi thoát”. Ông nội nói: “Thầy đã sắp xếp mọi việc. Khi ở trên tàu thầy đã gia nhập vào một họ đạo công giáo, vị linh mục chủ chiên nói họ đạo sẽ được ưu tiên cho định cư tại vùng ngoại ô Sài Gòn bên kia bến đò Thủ Thiêm. Mai hay mốt thầy sẽ đi gặp ông trùm để làm thủ tục cấp nhà vả đất, ở vùng này về Sài Gòn nhanh và tiện lắm; còn chú hai tạm ở đây để tìm mua ngay một căn nhà nhỏ trong khu này, anh em gần gũi nương tựa nhau mà sống”.

Ông kéo mình vào lòng vừa cười vừa nói: “Còn thằng bé này mau lớn, mỗi tuần phải qua ông để ông dạy võ”. Mình nhớ lại hồi ở nhà quê một đêm trăng sáng tình cờ thấy ông múa gậy ở cuối vườn, bây giờ thì ông chả cần giấu tung tich nữa.

Trong suốt ba năm mình đã được ông không những truyền thụ “võ công” mà còn dạy dỗ bao kinh nghiệm xử thế. Mãi đến khi mình thi đậu bằng trung học phổ thông và sẽ được chuyển về lại trường cũ Chu Văn An học lên đệ Tam (lớp 10), thi ông nội nói: “Coi như cháu đã trưởng thành phải định huớng tương lai, ông nội cho cháu xem tập tài liệu này”.

Ông vào phòng ngủ mang ra một cái hộp sắt cỡ quyển sách, lấy ra một xấp giấy đã vàng úa, cẩn thận giở ra từng trang, khoảng hai mươi trang: “Cháu xem đây, những hình vẽ gì đây?” Mình kinh ngạc nhìn những hình vẽ con tàu với những kiểu khác nhau, có những số ghi kích thước, có những hàng chữ nho và chữ quốc ngữ chú thích ở cuối trang.

“Ngày xưa cụ cố mê biển, học giỏi mà không thích thi cử làm quan, mười bảy tuổi bỏ nhà đi theo những tàu buôn mua đồ lạ về bán cho các cửa hàng lớn, kiếm nhiều tiền, gặp lúc có nhiều phong trào chống Pháp, cụ cố không dùng tiền để mua nhà tậu ruộng vườn mà đem giúp những tổ chức kháng chiến như của các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục... rồi bị mật thám theo dõi nên cụ cố chạy vào chiến khu Hoàng Hoa Thám giúp Cụ Đề trở thành một trong những mưu sĩ cận tướng; cả hai ông bà cố đều chung lý tưởng, ông nội sinh ra và trưởng thành trong chiến khu nên đuọc rèn luyện từ nhỏ. Cụ cố từng nói có ước mơ đóng được một chiếc tàu buôn do chính mình điều khiển đi buôn tới Singapore, Hồng Kông, Nhật... Cụ cố đã vẽ hai mươi mẫu tàu mà cụ biết qua những chuyến đi. Nhưng vì chiến tranh ước mơ không thành, trao lại cho ông nội tập vẽ này, nhưng ông nội phải trốn tránh giấu tông tích nên cũng chẳng làm được gì; bây giờ cháu là đich tôn của giòng họ, ông nội giao cho cháu di huấn này, cố mà thực hiện ước mơ của cụ cố”.

Bố nói: “Con phải đọc lại lịch sử nước mình, thời vua Minh Mạng đã cho nhiều tàu buôn đi giao thương vói nước ngoài, hơn nữa còn có nhiều xưởng đóng tàu theo kỹ thuật phương Tây được người nước ngoài khen ngợi.

Đó là vào năm 1957 khi mình chọn ban toán, tự hứa phải đậu tú tài để thi vào trường Kỹ sư Hàng Hải Phú Thọ, vì nghĩ máy tàu là chính còn vỏ tàu là phụ, muốn đóng tàu thì phải giỏi về máy tàu đã. Vào năm 1960 khi các bạn đậu tú tài, người thì du học ngoại quốc, người vào y khoa, luật khoa, văn khoa, hành chánh, sư phạm, hay Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, gia nhập không quân, hải quân... lại có bạn theo cộng sản vào mật khu, thì mình trúng tuyển vào trường Hàng Hải theo như dự tính của mình. Vào lúc này mình đã thấy rõ lằn ranh phân biệt giữa hai khuynh huớng quốc-cộng. Hồi còn nhỏ ở quận Văn Giang mình đã không hiểu tại sao cùng người Việt mà giết nhau; bây giờ thấy một số bạn trong cùng lớp cùng trường vào mật khu thì hình ảnh xác người du kích nằm cạnh xác ngươi lính quốc gia xưa kia lại hiện ra trong tâm trí. Họ chọn lựa bên này hay bên kia là do lý trí hay tình cảm, hay do một áp lực bên ngoài?

Hai bạn thân thời trung học bây giờ ở hai chiến tuyến, một lúc nào giữa chiến trường chĩa súng vào đầu nhau. Ai đúng ai sai? Riêng mình thì rõ ràng là ảnh hưởng của ông cố, ông nội và ông bố.

Bố mình không vui lắm, vì ông làm trong Bộ Y Tế có khuynh hướng muốn mình học ra bác sĩ y khoa; nhưng ông nội lại rất mừng, hết sức bênh vực mình nên bố cũng an tâm. Thực ra mình hiểu tâm lý ông bố; ông chỉ có bằng thành chung thời Pháp nhưng rất giỏi về quản lý hành chánh, nên được thăng lên làm chánh sự vụ sở nhân viên bao quát nhân sự trong tất cả các bệnh viện trên toàn quốc. Ông thấy bác sĩ có đẳng cấp cao trong bệnh viện và trong xã hội; ước mong có con làm bác sĩ là ước mong phổ thông trong xã hội, thành ra ông thất vọng là phải; nhưng mình nghĩ đó là tâm lý quần chúng bình thường, không chấp nhận những cái bất thường như cụ cố và ông nội mà mình ngưỡng mộ.

Bất đầu mình vào đệ nhị cấp, bố nói: “Con đã trưởng thành, mặc dù học toán theo năng khiếu, nhưng con năng đọc lịch sử xưa nay, năng đọc báo chí theo dõi tin tức thời sự để có những chọn lựa khôn ngoan trong đời; năng học hỏi ông nội. Mỗi tháng bố sẽ bàn luận với con về một đề tài”.

Trong ba năm bố đã bàn luận với mình bốn đề tài: cuộc cải cách ruộng đất của chính quyền cộng sản miền Bắc từ 1953 đến 1957; vụ án Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956-1957; vụ nổi loạn chống Liên Xô ở Ba Lan, và vụ lãnh tụ Liên Xô Khrutchev đem xe tăng đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Hung-Gia Lợi cùng năm 1956. Thật ra, mình biết gì mà bàn luận; bố cho tài liệu để mình đọc trước rồi sau đó khảo bài thôi. Nhờ vậy sau khi xong tú tài, thấy một số bạn theo cộng sản vào mật khu, mình đặt dấu hỏi các bạn đó biết gì về chế độ cộng sản, hoặc giả họ có những vấn đề cá nhân.

Sau hai năm học lý thuyết, mình và những đồng môn được giới thiệu làm thực tập sinh cơ khí trên những tàu buôn. Ngày ra đi, ông nội ôm chặt mình trong tay: “Cháu dã bắt đầu thực hiện giấc mơ của cụ cố; năm nay ông nội đã ngoài bảy mươi nếu có chết cũng vui vẻ hài lòng hãnh diện về cháu”. Ôm ông nội mà nước mắt mình ràn-rụa: “Ông nội là con nhà võ mà, không chết đâu, cháu hứa thực hiện ước mơ của cụ cố”.

Trên những chuyến hải trình, dần dẩn mình lập lại nghề nghiệp của cụ cố: óc thương mại, mua đồ lạ ở Singapore, Hồng Kông, Nhật Bản... về bỏ mối cho những của hàng lớn ở Sài Gòn; trong hai năm vừa đậu bằng Sĩ Quan Cơ Khí cấp 3, vừa kiếm nhiều tiền giúp bố mẹ xây lại nhà gạch hai tầng. Mình cũng thu thập những tài liệu về đóng tàu, để dành tiền mua máy móc vật liệu; mỗi lần về bến lại thăm ông nội tường trình diễn tiến công việc; ông nội nói: “Ông sẽ sống lâu chờ cháu hạ thủy chiếc tàu đầu tiên, dâng lên bàn thờ cụ cố”.

Sau năm năm mình được nâng lên Sĩ Quan Cơ Khí Cấp 1, tính sửa soạn bắt tay vào việc, mướn mặt bằng, mướn nhân công... thì lệnh nhập ngũ Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức năm 1967 đến. Thế là phải hủy bỏ mọi dự án. Số Trời! Ông nội buồn, cả nhà buồn và lo, nhưng cả thế hệ tuổi mình đều vào lính vì tình hình chiến tranh càng ngày càng khốc liệt. Các bạn bên y dược thì vào Quân Y, Quân Dược, các bạn bên Luật khoa vào ban Quân Pháp...

Tất nhiên sau chín tháng quân trường khóa 25 Thủ Đức, mình được chuyển về Hải Quân. Còn rất nhiều bạn chưa có bằng cấp đại học thì hầu hết vào Bộ Binh. Bao nhiêu tinh hoa thanh niên bị ném vào lò lửa. Bên phía cộng sản, cũng thế thôi. Ai có quyền chọn lựa?

Bây giờ mình là sĩ quan cơ khí trên tàu chiến không phải là tàu buôn. Năm 1969 đang ở miền Trung thì nghe tin sét đánh: Ông nội đã qua đời, may được vị hạm trưởng cấp phép về lo tang lễ.

Căn nhà nhỏ của ông nội có ba gian: gian giữa có bàn thờ và kê một bàn tiếp khách; bên mặt là phòng ngủ, bên trái là bếp. Quan tài đặt trước bàn thờ. Bàn thờ có ba bực: trên hết là Linh Vị Tổ Tiên, bực thứ hai có chân dung của cụ Đề Thám, hai bên là di ảnh của ông bà cố; bực dưới cùng là di ảnh của ông bà nội.

Mình quỳ gục khóc sướt mướt xin ông bà cố, ông bà nội tha tội cho cháu chưa thực hiện được ước mơ truyền tới ba thế hệ vẫn chưa thành.

PHẦN II

Đêm thần tiên

Từ khi lên tàu làm thực tập sinh cơ khí đến nay mình đã sống với biển hơn ba chục năm, tâm thân mình hầu như hòa nhập với biển, như một loài thủy tộc của biển. Khi biển lặng sóng yên, mình thanh thản lặng yên; khi sóng cuồng gào rít, mình theo sóng tung lên ngụp xuống. Chuyện đời cũng thế thôi; cứ xét về cuộc đời ông cố, ông nội, ông bố thì thấy có lúc nào các cụ được yên đâu; cứ yên được một thời gian rồi phong ba bão táp lại ập đến, một đời chạy trốn, chiến đấu đến chết, những ước mơ thiếu thời không bao giờ thành, giống như búp hoa chưa kịp nở thì đã bị gió táp rơi rụng.

Nếu chiến tranh không ào đến thì có lẽ mình đã xây dựng được một xưởng đóng tàu nhỏ ít nhất cũng dâng tặng ông nội một niềm vui, một niềm hy vọng trước khi lìa đời. Mất gần năm năm vô ích vô dụng trong trại cải tạo, nghe những ngôn ngữ tầm phào, rỗng tuếch, làm những việc vặt-vãnh phí thời gian. Có cả vạn tài năng bị lãng phí trong cái trường gọi là cải tạo.

Thì biển đời khác gì biển thực; mình như loài thủy tộc len theo sóng mà bơi; từ tập trung tại trường trung học Taberd, ra Trảng Lớn, lên Katum, về Bình Thuận..., câm nín dưới họng súng, lẳng lặng quan sát xem họ tài ba, đạo đức, trí tuệ đến đâu.

Một lần ở Katum, vợ mình lên thăm, nàng khẽ nói trước khi về: “Xin anh tha thứ cho em, đã không sanh cho anh một đứa con, và có lẽ em không bao giờ sanh nở được nữa; em sẽ theo gia đình đi Pháp, coi như anh sẽ tự do lập gia đình khác, xin vĩnh biệt anh”. Nàng ôm mặt nức nở chạy ra xe.

Nhớ lại lời ông nội nói tù cải tạo không có án bao lâu; có khi một năm có khi mấy chục năm; mình nghĩ làm gì có cơ hội lập gia đình khác.

Ở trại mới mình được phân công vào tổ máy móc, có bốn kỹ sư công binh cũ, chuyên lo sửa sang bảo trì máy phát điện, máy bơm nước, xe ô tô, điện đài..., phải bảo đảm bóng đèn của các phòng tù, bóng đèn hàng rào luôn luôn sáng.

Tổ máy móc có một gian nhà riêng để ngồi sửa chữa đủ thứ, xe đạp, ra-dô, đồng hồ. Gian nhà này cạnh nhà bếp. Có một ông chừng khoảng năm mươi, thọt một chân đi khặc-khừ trông coi việc châm lửa hai lò lớn nấu hai chảo cơm canh. Xong việc, anh ta hay lân-la qua nói chuyện; lúc đầu ai cũng ngại anh ta là ăng-ten đi dò la tin tức nên không ai tiếp chuyện. Chính ông nội thường dạy mình vào đời cẩn trọng lời nói kẻo vạ vào thân; cho nên mình ậm-ừ với anh ta cho qua rồi giả bộ làm việc. Bọn mình gọi anh ta là chú Thọt. Không thấy ai bắt chuyện, anh ta đứng nhìn trời nói bâng quơ: “Các ông tự hào tự cao đậu bằng này bằng nọ, đại học này nọ vậy mà thua đứa học ít”.

Mình nghĩ không phải mình hèn không dám nói như anh ta, nhưng xét thực tế mình đang như cá nằm trên thớt, cần phải nín thở qua sông, đời còn dài mà. Nhớ lời ông nội dạy, khi gặp hoàn cảnh khó khăn, phải nhẫn nhịn, kẻ thắng ta lúc này sẽ bị người khác đánh bại lúc sau.

Một lần khác, anh ta lại phát ngôn bâng quơ: “Nếu trăm năm qua người Pháp khôn ngoan không đàn áp những người kháng chiến quốc gia thì chưa chắc đã thua 1954, chết đến nơi rồi mới ngộ ra thì đã muộn; không có 54 thì làm gì có 75”.

Mình nghĩ tay này đầu óc chẳng phải tầm thường, mà sao lại bạo miệng như thế; chắc là anh ta chẳng cò vợ con cha mẹ gì để mà bám víu, lo lắng; hay là trong đầu anh ta đầy ắp tư tưởng mà không nói ra được thì phát điên loạn; trong tổ nhà bếp thiếu gì ăng-ten.

Bỗng một buổi sáng, như thường lệ, tám giờ toàn trại tập họp để kiểm tra nhân số trước khi ra ngoài lao động, thiếu tá phó trại xuất hiện với hai cán binh cầm súng dài hộ vệ hai bên. Đã quen với những việc bất thường, mình bình tĩnh liếc mắt nhìn chung quanh.

Thiếu tá lạnh lùng nhin hàng “quân”: “Hôm nay trại thi hành kỷ luật với một tên phản động”. Tim mình giật thót... đúng là mất hẳn bình tĩnh, trong đầu vang lên hai tiếng: “ai đây, hay là mình?”. Thiếu tá ngừng một phút, mình cảm thấy cả ngàn con tim như ngừng đập, cả một khoảng sân rộng lạnh tanh như một nghĩa địa.

“Dẫn hắn ra đây”, bỗng nhiên có hai tù nhân đứng lên xốc nách một tù nhân khác kéo lê về phía thiếu tá. “Đây tù nhân Nguyễn Văn Lư đã lén lút phạm qui định của trại, trong nhiều tháng đã viết cả trăm trang nói xấu cách mạng, phê bình lãnh tụ, biện hộ cho những tên phản động đầu xỏ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm; hắn chưa kịp phát tán tài liệu thì bị phát hiện; trại quyết định biệt giam hắn vào xà-lim trong một tháng viết kiểm thảo ăn năn hối cải”. Ông quát lên: “Lôi hắn đi”. Rồi ông lạnh lùng quay ra cổng. Sự việc xảy ra chớp nhoáng, hầu như không ai kịp lấy lại hơi thở.

Hóa ra Nguyễn Văn Lư là chú Thọt; điều mình nghĩ về chú không sai.

Nhớ lại hồi trung học, bố đã bắt mình đọc tài liệu về phong trào này và khảo bài mình mấy lần. Mình còn nhớ bố kể những người “Đầu Xỏ” như ông Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo... toàn là những trí thức cự phách.

Mình quyết định âm thầm dò hỏi về lai lịch của chú.

Trong tuần đầu tiên sau vụ việc, không khí trong phòng giam nặng trĩu. Thường mỗi tối sau cơm chiều, tù nhân ai vào phòng nấy, mỗi phòng chứa khoảng năm chục nằm trên bốn tầng trên dưới, mỗi bên hai tầng. Cán binh gác ngoài khoá cửa, từ bảy giờ đến chín giờ sinh hoạt tự do. Tưng nhóm, từng nhóm quây quần chia nhau thuốc lào tán gẫu, đãi nhau bánh trái thăm nuôi; nhóm đông nhất là nhóm kể chuyện võ hiệp Kim Dung; có một anh nhớ truyện Kim Dung kinh khủng, kể ANH HÙNG XẠ ĐIÊU, THIÊN LONG BÁT BỘ, CÔ GÁI ĐÒ LONG làm mọi người say mê; đêm nào anh ta cũng được mời đủ thứ quà Sài Gòn.

Nhưng tối nay, không nhóm nào họp, mọi người buông màn ngủ truóc giờ qui định; một căn phòng hoang vắng như bãi tha ma trong ánh đèn điện leo-lét.

Thường sau cơm chiều, tù nhân được đi bách bộ khoảng nửa tiếng trước khi bị nhốt vào phòng, nhưng tuần lễ đầu, sân trại vắng hẳn. Những tuần sau đó dần dần đông đúc trở lại, các bạn ở trong những phòng khác nhau đước gặp nhau lại, nhờ đó thông tin rò rỉ; dần dần mình thu thập được một “tiểu sử” về chú Thọt.

Năm 1976 mình ba mươi lăm tuổi, mà chú Thọt đã năm mươi, tức là chú sinh ra khoảng năm 1925. Khi chú được ba tuổi bị bệnh sốt tê liệt không thuốc chữa nên một chân teo lại; lớn dần lên đi học bị các bạn chế diễu, bắt nạt làm trò cười cho chúng bạn, chú khóc với bố mẹ nhất định không đi học; cha mẹ chú lại là hai nhà giáo quyết định dạy chú ở nhà; ông bà dạy chú các môn văn sử, còn các môn khoa học thì mướn thầy chuyên môn. Vì thế khi trưởng thành thì trình độ kiến thức của chú so với trường học cũng không chênh lệch.

Ông bà nghĩ khi mình chết rồi thì thằng bé làm gì để sinh nhai với cái thân tật nguyền, nên nghĩ ra một cách sinh kế thích hợp cho nó. Ông bà đi mua đủ loại sách cũ về mở tiệm bán sách cũ tại nhà cho nó làm chủ. Nó ngồi nhà sắp xếp sách ra từng bộ môn, suốt ngày đọc hết cuốn này qua cuốn kia; khách hỏi sách nào là cậu ta nói lược qua nội dung khiến cho lâu ngày người ta đồn có một con mọt sách thông minh trong khu lao động Vươn Chuối, đọc được ba loại sách Pháp Anh Đức. Các nhà báo, nhà văn, các học giả đi tìm sách quí cổ xưa đều tìm đến tiệm sách của cậu, vì thế cậu cứ ngồi nhà kiếm tiền sinh sống sau khi cha mẹ theo nhau qua đời.

Cho đến ngày 30 tháng 4 thì tai họa ập đến. Một đoàn những thanh niên đeo băng đỏ gọi là “cách mạng 30 tháng tư” ùa vào kết án anh tàng trữ sách báo phản động, họ ném tung ra đường, rồi một lệnh từ đâu đến bắt anh đi tù cải tạo. Sau này nguòi ta kể, họ muốn cướp lấy căn nhà nên đuổi anh ta đi.

Sau khi ra khỏi xà-lim biệt giam, chú Thọt không được làm trong nhà bếp trại nữa mà phải đi làm bếp cho đội lâm sản; hàng ngày mình nhìn chú lết đôi chân tật nguyền ra ngoài bìa rừng mà rớt nước mắt, một vầng trán cao, đôi mắt sáng, một bộ óc chứa đầy kiến thức mà phải đọa đầy. Mãi đến năm 1978 chú mới được thả, nhưng mình nghĩ chú sẽ kiếm sống cách nào giữa một xã hội vô cảm. Một tội danh mơ hồ đã phá tan cái nguồn sinh kế của một con người tàn phế có tài. Mình liên tưởng đến cảnh đọa đầy của các trí thức tài ba như cụ Đang, cụ Tường, cụ Thảo.

Mãi đến năm 1985 ở Mỹ tình cờ mình gặp lại một bạn tù cũ, anh ta cho biết có một vị sư già trước kia từng đến mua sách của chú Thọt gặp chú đang ngồi xin tiền ở chợ bèn mời chú về chùa làm việc phiên dịch và ấn tống kinh Phật, sau đó chú cũng đã xuống tóc đi tu. Nhứng kẻ đã đọa đày chú một lúc nào đó sẽ phải quỳ xuống đảnh lễ chú. Chợt liên tưởng đến hình ảnh nhà sư trong tàng kinh các của Thiếu Lâm Tự trong truyện Thiên Long Bát Bộ; nhà sư ẩn mình trong tàng kinh các lặng lẽ quét rác sân chùa là một siêu cao thủ, cắp hai bên nách hai đại cao thủ Bắc Nam Tiêu Viễn Sơn, Mộ Dung Bác chạy như bay, cuối cùng hai kẻ cựu thù trở thành anh em đồng tu trong vòng tay của lão sư phụ.

Sau khi vợ mình bỏ mình đi Pháp thì hai đứa em gái thay nhau lâu lâu lên thăm nuôi.

Mình càng ngày càng thấy mình sống vô dụng, làm thằng đàn ông mà phải sống nhờ em gái, nhiều đêm mình nghĩ phải trốn trại, chết còn hơn sống vô tích sự. Ta còn lời hứa với ông cố, ông nội, ông bố... ta đã bỏ phí ba năm. Thế là mình suy nghĩ kế thoát thân. Khó, rất khó. Ta rành đường biển, nhưng đường rừng thì chịu.

Nửa năm qua đi, bỗng một buổi chiều có lệnh trại viên Ngô Linh chuẩn bị toàn bộ tư trang lên trình diện Ban Chỉ Huy Trại. Đúng là đột biến, xấu hay tốt đây. Đại úy trực trại chỉ mình ngồi đối diện. “Anh có lệnh chuyển trại sáng mai đi sớm, nhưng đêm nay anh được ngủ tại đây, có vợ anh lên thăm nuôi”.

Trong đời mình đã qua bao nhiêu đột biến, mà vừa nghe đại úy nói, mình như muốn vỡ toang lồng ngực, cố kềm để không bật ra tiếng kêu “ Ô tôi có vợ nào đâu”.

“Bây giờ là giờ cơm chiều, anh vào phòng ăn có cần vụ sắp sẵn”.

Ông không nói gì thêm, đứng dậy đi vào, lạnh-lùng; lệnh ban ra ngắn gọn không cần hỏi. Anh cần vụ nói: “Phần cơm của anh, xong cứ để đó”. Nói xong anh bỏ ra ngoài; lại một lệnh ngắn gọn. Mình ngồi xuống trước khay cơm. Gì đây? Một thố cơm trắng đầy đặn bốc khói thơm phức, một bát canh chua cá, một đĩa gà quay vàng rịn, một đĩa rau muống xào; cơm tù đây sao? Mình bỗng lạnh người, thôi rồi, các ông bày nhiều màn kịch, cấp úy mang lương thực đủ mười ngày, cấp tường tá một tháng; còn bây giờ màn kịch gì đây? Một bữa cơm thịnh soạn dành cho tử tù sắp lên máy chém. Miệng mình khô đắng, bố mẹ ơi tha thứ cho con không phụng dưỡng được lúc tuổi già, đêm nay con sẽ bị xử bắn. Nhưng tự hỏi tội gì, hay là vì họ truy lý lịch bố ta xưa làm việc cho Pháp, ông nội ta không cộng tác với Việt Minh ?

“Chưa xong à, sắp đến giờ phòng ăn đóng cửa”. Lại một lệnh; thôi không ăn cũng chết.

Thà làm ma no hơn ma đói. Cơn đói cồn cào, mình ngấu nghiến nhồi hết khay cơm; uống ly trà nóng và đi ra.

Đại úy đã chờ sẵn “Anh vào phòng này thay bộ quần áo mới, gặp vợ phải tươm tất một chút”.

Cứ lệnh này qua lệnh kia, mình thấy mình chẳng phải là thằng Ngô Linh mấy năm trước còn tự chủ toan tính mua mặt bằng làm xưởng đóng tàu; mà cả ông đại úy, anh cần vụ cũng thế, họ như những người gỗ trong màn múa rối nước. Ờ, lệnh thay thì thay, vợ nào ở đây, nàng đang ở bên Pháp kia mà, cứ để xem màn kịch diễn tiến thế nào.

Đây là dẫy nhà văn phòng, qua cái sân rộng bên kia là nhà ở cán bộ. Một cán binh đến, nói gọn lỏn: “Đi”, lại một lệnh lạnh lùng, Trước một căn ngoài bìa về phía rừng, anh cán binh gõ cửa. Thoáng trong đầu mình hiện ra một xà lim biệt giam chú Thọt. Cửa mở, một phụ nữ hiện ra, vẻ dè dặt, quần đen áo bà ba màu nâu non, mặt không son phấn như một thôn nữ. Mình thảng-thốt kêu lên: “Ô Hường, sao em ở đây?”. Anh cán binh lặng lẽ bỏ đi. Mặt nàng ràn-rụa nước mắt, “Ôi anh Linh của em còn khỏe mạnh như xưa, mình vào trong em kể chuyện”.

Lại một lệnh mình phải tuân theo, nhưng một lệnh đầm ấm thân thương; nàng cầm hai tay mình dắt đến ghế ngồi; quái lạ, mình vốn con nhà võ, đệ tử truyền thừa của ông nội, mà sao từ chiều đến giờ mình như con cù-lần.

Nàng ngồi ghế đối diện, nắm chặt tay mình, hơi ấm thiếu nữ tỏa ra làm mình ngây ngất, ba năm rồi không gần đàn bà. Hương thơm tỏa ra từ hơi thở nàng, từ thân thể nàng, từ mái tóc đen tuyền, mình nhắm mắt không dám nhìn làn da cổ tráng ngần. Mình tính nhẩm năm nay nàng đã hai mươi sáu.

Nàng thổn thức: “Em lên đây báo tin mừng cho anh là hai chị Ngân, Hà đã vượt biên cùng chồng con cả năm nay, có tin đã định cư tại Canada. Hai bác thì già yếu, bây giờ sống cô độc, em qua nấu nướng hầu hạ hàng ngày; bác gái cứ khóc gọi tên anh hoài; anh và hai bác và các chị đều là ân nhân sâu nặng của gia đình em, không biết trả ơn bao giờ cho hết”.

Nàng kể sau nhiều đêm suy nghĩ, quỳ xuống trước hai cụ: “Con nhờ ơn anh Linh và hai bác đã giúp gia đình con khá giả như ngày nay, chị cả đã qua Pháp mà anh Linh lại vướng vòng tù tội, hai bác thì lẻ loi tuổi già, xin hai bác rộng lòng cho con được trả ơn một đời; nếu hai bác không coi con xuất thân nghèo hèn, xin hai bác nhận cho con được làm dâu để phụng dưỡng hai bác cho tròn đạo nghĩa”.

Bác gái cảm động ôm nàng: “Ôi đứa con gái ngoan này, cảm ơn con đã có lòng thành nhưng con thử nghĩ coi Linh nó tù tội biết ngày nào ra làm lỡ một đời con gái của con; con nên chọn ngươi chồng nào có địa vị trong xã hội mà xây dựng gia đình”.

Bác trai nói: “Con à, bác gái nói đúng đấy, một quyết định sai lầm sẽ gây ra bi kịch về sau làm cả hai đều khổ, mà hai bác ở dưới suối vàng cũng không yên; con nên suy đi tính lại thật kỹ”.

“Em trằn trọc nhiều đêm ngày để thấy rõ em yêu anh từ lâu và không thể trao thân cho người đàn ông nào khác, nếu không lấy anh thì em cũng sẽ sống độc thân suốt đời”.

Nàng trình bày với hai cụ về quyết ý của mình, bác trai nói: “Nếu con có thành ý như vậy thì bố mẹ rất hạnh phúc có con dâu như con, bố mẹ yên tâm qua đời, rồi vợ chồng con sẽ có ngày đoàn tụ, trời không phụ kẻ có lòng con à. Ngày mai bà sắm lễ vật để kính cáo với tổ tiên, kín đáo không cho ai biết ngay cả họ hàng.”

Bố mẹ em chắp tay “Chúng cháu là phận nghèo hèn, không dám với cao, không dám nhận làm thông gia với ông bà, nhưng vì cháu Hường nó thương cậu hai lắm, nó nói không làm vợ cậu ấy thì nó ở vậy suốt đời; may được ông bà thương chấp nhận cho thì chúng cháu chỉ biết vâng theo”.

Buổi lễ chỉ có sáu người quỳ trước bàn thờ; hai bác, bố mẹ em, em và đứa em trai, thằng Thuật ấy, anh còn nhớ nó không, nó bắt chước anh học về hàng hải. Sau buổi lễ ấy em là vợ anh rồi”.

Mình thấy mặt nàng đỏ lên, mình không thể tưởng tượng lại có diễm phúc nhường ấy giữa đêm đen vô vọng. Mình ôm nàng, khẽ nói vào tai nàng: “Em như tiên nữ từ trên trời giáng xuống hang tối âm u ban cho anh hạnh phúc thiên đường; nhưng anh không hiểu làm sao em xin phép trại được qua đêm ở đây?”

Nàng bịt miệng chàng thì thầm: “Chuyện đó em sẽ kể sau, đêm nay là đêm tân hôn của chúng mình mà, chỉ biết có hai chúng mình thôi”. “Anh nhớ hồi lên thăm anh ở quân trường Thủ Đức em nói không muốn lấy chồng mà”. “ Thì em nói trừ khi em lấy anh”

***

Khi vừa di cư vào Nam, nhờ có tiền của ông nội, bố mình đã mua được căn nhà nhỏ trong một hẻm của khu Bàn Cờ. Phần lớn dân cư là thành thần lao động. Ở cuối hẻm có một gia đình chồng làm nghề đạp xích lô, vợ ở nhà nuôi một đứa con gái hai tuổi, một đứa con trai một tuổi. Nhà mình cách nhà đó ba căn, mẹ mình đã mở sạp bán quần áo ngoài chợ Bàn Cờ thấy tình cảnh gia đình anh xích lô tội nghiệp quá, hàng ngày cho hai đứa em gái qua giúp chị ấy, những ngày giỗ Tết đều cho các cháu quà bánh. Bố thì giúp anh ấy bằng cách thuê đưa đón lên Bộ Y Tế hàng ngày.

Lâu dần anh ấy tâm sự với bố về nguồn gốc gia đình. Bố anh ấy sinh khoảng năm 1900 tại Hà Đông Bắc Việt, nhà nghèo quá phải vào Nam làm phu đồn điền cao su, đứa em trai phải đi làm phu mỏ than Hòn Gay; làm trong đồn điền mười năm, không hiểu ông làm cách nào về Sài Gòn mua một căn nhà tồi tàn, sửa sang lại, sinh sống bằng nghề đạp xĩch lô, lấy vợ sanh ra anh ấy vào năm 1930. Anh ấy không được học hành gì, nên khi cha mẹ chết hết anh phải kiếm sống bằng cái xe của bố; sau khi sanh hai đứa con thì vợ anh chỉ ở nhà nuôi con, một mình anh đạp xe suốt ngày cho đến khuya vì phải chờ khách tại các vũ trường, nhà hàng, rạp hát...

Bố mẹ mình khuyên anh ấy cho hai đứa con đi học, con Hường và thằng Thuật, thiếu thốn gì ông bà sẽ giúp. Năm 1962 khi mình ra trường Hàng Hải và sửa soạn đi thực tập trên các tầu buôn thì con Hường đã mười tuổi, mẹ mình cho nó ra giúp việc lặt vặt ở cửa hàng có trả lương để phụ tiền cho bố nó.

Một buổi tối gia đình mình đang ăn cơm thì con Hường hớt hải chạy qua mếu máo khóc nói có người bạn của bố chạy về báo bố cháu bị một bọn du côn giành khách ở vũ trường Queen Bee đánh; mình tức tốc lấy xe gắn máy phóng đến, vừa lúc chúng nó đạp anh ấy ngã xuống và đang tính đập cái xe. Mình dựng xe ở xa, phóng tới giở những đòn võ của ông nội truyền hạ gục từng thằng, rồi chở anh ấy vào nhà thương, nhờ người bạn kia đạp xe xich lô về nhà.

Khi con Hường mười ba tuổi, học lớp bảy, mẹ mình nói với bố mẹ nó: “Cháu Hường chăm chỉ khéo tay, anh chị nên cho cháu học nghề may kiếm tiền nhanh để giúp gia đình, chứ bà thấy anh ấy dạo này hay đau yếu không đạp xe được nhiều; ngoài giờ học ở trường,bà sẽ giúp cho nó đi học trường may,mua cho nó một máy may ở nhà tập”.

Hai vợ chồng khóc ròng sụp xuống lạy bà. Quả nhiên sau ba năm học hành chăm chỉ Hường đã may được nhiều loại quần áo kiếm được nhiều tiền. Khi mình vào quân trường Thủ Đức năm 1967, vào một ngày thăm nuôi của gia đình khóa sinh, mình được báo có em gái thăm, tưởng là hai em gái Ngân, Hà, ai ngờ là con Hường. Năm nay nó mười sáu, tuổi trăng tròn, đẹp lạ, chẳng phải là cái con bé gầy gò xanh xao mười năm trước.

“Các chị bận học, em xin phép bác gái lên thăm anh”. Mình cứ ngây người ngắm nó.

“Em mua nhiều thứ anh thích, anh ăn đi chứ, sao cứ nhìn em hoài”. Mình cười xòa: “Từ hồi anh đi biển đến giờ lâu lắm mới gặp em lại thấy em khác hẳn”. “Nhờ hai bác và các anh chị mà gia đình em khá giả như ngày nay, em mở tiệm may tại nhà, có tiền sửa lại nhà và bố em không đạp xe nữa chỉ chạy hàng giao hàng cho em thôi’. “Mới mười sáu tuổi mà giỏi thế, anh nào mà lấy được em là đại phước đấy”. Nó cười ròn-rã: “Em chẳng muốn lấy chồng, trừ khi.....”

Kẻng báo hết giờ, Hường cầm tay mình: “Anh giữ sức khỏe,tháng sau em lại lên thăm anh”

***

Sáng sớm, Hường chào và cám ơn đại úy trực trại, ra xe đò. Mình nhìn theo nàng ngẩn ngơ, bao giờ còn gặp lại em? Một lần cho vĩnh viễn, đêm qua nàng tiên đã dắt ta bay lên thiên cung, bây giờ ta trở về lại hang tối.

“Xe đã đến, anh mang hết tư trang theo”.

Vẫn là một lệnh lạnh lùng. Mình ngoái nhìn vào trại một lần cuối, chào vĩnh biệt các bạn trong tổ máy móc.

Xe chở tù, bít bùng, đâu biết đi đâu. Ước chừng bốn tiếng đồng hồ, xe ngừng, cửa xe mở, lại một lệnh “Anh mang hết tư trang vào trại”.

Mình lướt mắt đảo quanh, ngỡ ngàng, như lạc vào cõi mộng; ta trở về chốn cũ: Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang, không phải trại tù. Cảnh cũ nhưng không có người xưa. Có bảng hiệu mới “Trường Sĩ Quan Hải Quân”.

Được dẫn vào văn phòng sĩ quan trực: “Chào anh, mời ngồi”.

Lần đầu tiên trong bốn năm tù mình được chào mời, không phải là lệnh; trong lòng lấy làm lạ.

“Nói ngay để anh yên tâm, anh dã có lệnh tha về làm công dân bình thường, nhưng vì có công vụ đặc biệt chúng tôi phải giữ anh thêm một thời gian, không phải như một người cải tạo, nhưng như một chuyên viên cơ khí máy tầu. Hệ thống máy của một chiến hạm có trục trặc mà không thợ nào ở đây sửa được; lãnh đạo đã điều anh về đây vì biết anh có tay nghề cao, anh sẽ làm việc trên tàu cho đến khi sửa xong. Đơn vị sẽ trả lương anh như một công nhân, nhưng tuyệt đối không thư từ giao dịch với bên ngoài; anh sẽ ở trại một tuần nghỉ ngơi sau đó sẽ lên tàu làm việc”.

Đường đởi thật ngoắt-ngéo; ta như cá đã về với nước, loài thủy tộc đã trở lại biển khơi, về với những máy tàu thân thiết, ta có thể tìm cách vượt biên dễ hơn; nhưng còn em? Người vợ đã cùng ta động phòng đêm qua không tiệc cưới, không họ hàng bằng hữu chứng kiến, tội nghiệp cho em, lấy chồng mà biết trước không thể sống chung. Làm sao báo tin để nàng biết ta sẽ về với nàng nay mai.

Nhưng công việc đã hút hết tâm trí ta vào cái máy tầu, nó như một bệnh nhân mà một lương y hết lòng săn sóc từng giây phút.

Chiến hạm có động cơ trục trặc từng bị tắt máy ngoài khơi phải đưa tàu kéo trở về bờ.

Nhóm thợ máy cũng đã tìm mọi cách sửa nhưng chỉ dám chạy ven biển; mình phải lên tàu theo dõi từng chi tiết kỹ thuật mong tìm ra nguyên nhân. Sáu tháng trời miệt mài nghiên cứu bản đồ thiết kế, theo dõi lúc máy nổ mình mới tìm ra một linh kiện điện tử bị chết, trình cho lãnh đạo, đề nghị hai phương án, hoặc là phải mua cái mới ở nước ngoài, hoặc tạm thời cho hải quân công xưởng tự chế theo mẫu nguyên thủy.

Lãnh đạo chấp thuận cả hai, một mặt yêu cầu hải quân công xưởng chế một bản sao mẫu nguyên thủy, một mặt tìm hãng nước ngoài bán đồ “gin”.

Thế là thời gian lại mất thêm ba tháng. Bản tự chế ráp vào quả nhiên làm máy nổ, nhưng sức kéo yếu lắm. Máy nguyên thủy chế tạo tại Mỹ, tất nhiên phải liên lạc với hãng Mỹ mới mua được. Không phải dễ, quan hệ ngoại giao, thương mại chưa thành, lại phải đi vòng qua nước thứ ba. Ba tháng nữa trôi qua. Hóa ra một năm vèo đi mà mình hầu như quên bẵng bố mẹ, quên Hường người vợ đáng thương, nhưng đâu có cách nào liên lạc được với nàng.

Cuối cùng mọi việc cũng ổn, tàu chạy bình thường, mình được khen tặng đồng thời chúc mừng mình trở về với gia đình và xã hội. Lúc đó đã là vào đầu năm 1980.

Về với gia đình ư? Bố mẹ đã qua đời cuối năm 1979, nhà đã có hai gia đình cán bộ ở, nhà Hường cũng có người lạ, gia đình chú thím hai đã định cư tại Úc. Tan tác; trình diện phường khóm, được tạm trú một phòng kho vốn để chứa đồ đạc lặt vặt.

Hàng ngày mình lang thang chợ trời mua đi bán lại nhờ số tiền lương để dành một năm trong căn cứ hải quân.Tình cờ một bữa ghé một cửa hàng bán điện máy, bỗng chủ tiệm la lên: “Ô, phải cậu Linh đây không, nhớ tôi không, Khang thuyền trưởng đây”.

Chú Khang, thuyền trưởng một thương thuyền mà chàng làm thợ máy trong hai năm 1963-1965, chú rất quý mình. Chú hơn mình mười tuổi. Hai người vào một quán cà phê tỉ tê chuyện đời. Mặc dù từng biết chú là người lương thiện, nhưng thời buổi đảo điên này cần thận trọng lời nói, luôn nhớ lời ông nội “Bệnh tùng khẩu nhập, Họa tùng khẩu xuất”. Lòng người ngày nay khó đoán; ông bố vợ mình tưởng là một công dân chế độ miền Nam vì hưởng bao nhiêu tài lộc trong xã hội thế mà lại phản miền Nam; vợ mình cũng bỏ rơi mình trong cơn hoạn nạn; bạn thân từ trung học bỗng đội nón tai bèo về thành ngày 30 tháng tư; họa chăng chỉ có người vợ một đêm đã hiến đời con gái cho ta, thầm lặng dù chẳng biết bao giờ tái ngộ. Vì nghĩ nàng là người vợ do hai bên cha mẹ đồng thuận kính cáo tổ tiên gả cho, ta không có mặc cảm phạm tội, nhưng ray-rứt một niềm thương cảm vô biên với nàng.

Chú Khang nói: “Dễ đến cả mười lăm năm mới gặp lại cậu. Năm 1975 chủ tàu bán tàu qua Pháp, tôi thất nghiệp, đi bán chợ trời qua ngày. Mình ra ngoài vừa đi vừa nói chuyện”.

Chàng kể sơ qua đời mình trong thời gian qua, chú mời chàng về nhà dùng cơm trưa.

“Tôi tin cậu như một đứa em trai, hôm nay gặp cậu đúng là trời xui đất khiến. Hai năm nay tôi đã bí mật đóng một ghe vượt biên cho khoảng bốn chục người, sắp xong nhưng vấn đề là ráp máy tầu, có cậu là chuyên viên lo cho máy móc thì khỏi lo gì, cậu sẽ đi với gia đình chúng tôi, toàn họ hàng tin cẩn, cậu không phải góp tiền bạc gì”.

Giữa cảnh đời vô gia cư, tứ cố vô thân, chú Khang như một cái phao cứu hộ. Từ đó, chàng vẫn bán buôn như thường nhưng được chú Khang bí mật dẫn đi làm máy. Thế là sau lễ Giáng Sinh 1980 đoàn ra đi bình an đến đảo. Chàng không ngờ thoát khỏi hang tối âm u sớm như vậy. Chú Khang lăn lộn với nghề đi biển lâu năm, qua Mỹ chú tìm việc được ngay, gia đình đến nay ổn định, con cái thành đạt, còn mình vẫn sống cu ki mặc dù có vài cô gái xinh đẹp muốn tiến tới; mình phải tìm Hường, anh không thể phụ em, trừ khi em đã lập gia đình khác. Mình nhớ trong “đêm tân hôn” nàng nói “em không muốn lấy chồng trừ khi lấy anh”.

Hôm nay là ngày giỗ chung cho các cụ, ngồi một mình trong văn phòng yên tĩnh, nhìn biển Thái Bình sóng yên bể lặng, mình thầm cầu nguyện các cụ linh thiêng phù hộ cho con tìm được vợ của con.

***

PHẦN III

"Vầng trăng ai xẻ làm đôi. Nửa in bóng thiếp nửa soi dấu chàng” – 1997

Lễ Tạ Ơn năm nay là lễ thứ mười lăm tôi và gia đình được vui hưởng tại Mỹ, từ khi rời đảo vào Mỹ năm 1982. Chúng tôi định cư tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Em trai tôi thằng Thuật, nhờ bố mẹ anh Ngô Linh giúp đỡ cho đi học đậu tú tài toán năm 1971, bắt chước anh Linh thi đậu vào ban kỹ sư cơ khí hàng hải tại Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, rồi xuống tàu buôn thực tập; cuối năm 1979 không có hàng hóa để chuyên chở, chủ tàu quyết định cho gia đình các nhân viên ai muốn đi sẽ cho đi theo qua đảo, cả gia đình tôi được bốc đi, không kịp chuẩn bị, bỏ nhà cứa luôn.

Thằng Thuật nói: “Anh Linh là thần tượng của em, sang Mỹ em sẽ đi học lại tại Đại Học Cộng Đồng lấy bằng cơ khí viên hàng hải, đi làm có tiền rồi sẽ học tiếp lên lấy bằng cử nhân đóng tầu, vì ngày trước anh Linh nuôi ước mơ đóng một tầu buôn mà chưa có cơ hội thực hiện thì phải nhập ngũ”.

Trong vòng năm năm nó vừa đi làm vừa học rồi xin vào hãng đóng tầu kiếm nhiều tiền. Nó nói gia đình mình chịu ơn sâu nặng của ông bà và các anh chị, nên sau khi mua được nhà riêng nó thiết lập bàn thờ tổ tiên, thờ hình ông bà luôn.

Tôi mở một cửa hàng nhỏ bán vải và quần áo theo nghề cũ kiếm sống lai rai. Đặc biệt bố tôi đi học nghề thợ tiện được trả lương cao, mẹ tôi giúp tôi chăm sóc con tôi, tên Ngô Khai do ông bà nội đặt hồi còn ở Việt Nam trước khi ông bà qua đời năm 1979.

Nói chung đời sống càng ngày càng ổn định. Cháu Ngô Khai đến nay 1997 đã mười tám tuổi, được cậu Thuật kèm toán nhằm đích vào thẳng đại học môn đóng tầu theo ý nguyện của cha nó.

***

Sau đêm tân hôn trong rừng, tôi đã đậu thai, trình với ông bà. Bà ôm tôi khóc ròng: “Bố mẹ cám ơn con dâu ngoan, con không được làm việc vất vả gì hết để hai bà nội ngoại lo mọi việc”. Vào đầu năm 1979 tôi sanh con trai giống anh Linh như lột, ông bà sung sướng ôm cháu suốt ngày, nhưng trong vòng nửa năm ông bà theo nhau qua đời. Trước khi nhắm mắt ông bà đều nắm tay tôi nói: “Bố mẹ nhắm mắt an vui vì đã có cháu đích tôn,con cố nuôi cháu cho nên người, bố nó vẫn còn sống đấy sẽ về gặp hai mẹ con”.

Nhớ lại đêm đó anh Linh hỏi làm sao em được phép ở lại trại, mình không tiện kể dài dòng. Thật ra đó là một bi kịch gia đình đã khiến mình nhất quyết vượt biên mặc dù con chưa đầy một tuổi.

Một buổi trưa cả nhà đang ăn cơm, có tiếng gõ cửa. Một ông già khoảng bẩy chục tuổi mặc quần áo cán bộ, mặt hom-hem xuất hiện “Xin lỗi quý anh chị đây có phải là nhà của ông Nguyễn Kim Dưỡng không ạ?” Bố tôi ra tiếp: “Vâng ông ấy là cha tôi, nhưng cha tôi đã mât lâu rồi”. “Tôi tên Nguyễn Kim Dĩ, em ruột của ông Dưỡng, anh em chúng tôi đã xa nhau mấy chục năm, bây giờ hòa bình rồi mới tìm lại nhau, buồn quá ông ấy đã qua đời, có thể cho tôi vào lạy bàn thờ ông ấy được không?”

“Bố tôi xưa có kể ông ấy có người em trai còn ở ngoài Bắc nhưng chúng tôi bận làm ăn sinh kế nên cũng không để ý nhiều”.

Từ hồi tôi mở tiệm may quần áo, sửa sang lại nhà cửa khang trang, dựng bàn thờ tổ tiên ngay ngoài phòng khách. Chúng tôi hầu như không có chút tình cảm nào với người khách lạ tự nhận là em của ông nội. Bố tôi cũng có vẻ dửng-dưng, không mời ông ta ngồi, hình như muốn ông ta ra khỏi nhà. Ông ta hơi có vẻ lúng túng, đứng trước bàn thờ lâm râm khấn vái, rồi chắc là thấy không khí lạnh nhạt, ông ta nói: “Cám ơn quí anh chị” rồi bước ra khỏi nhà.

Tôi khẽ hỏi bố: “Nếu ông ấy là em của ông nội thì là chú của bố, là ông chú của các con, sao bố không mời ông ấy ngồi lại?” “Bố cảm thấy chẳng có chút tình cảm thân thuộc nào, bố không muốn dính tới cán bộ, nếu ông ấy đừng mặc áo cán bộ thì có lẽ bố sẽ mời ngồi nói chuyện”.

Ba ngày sau, ông phường trưởng xin nói chuyện với bố: “Hôm trước có đồng chí trong ban tuyên giáo trung ương xuống phường xem hộ khẩu nhà chú, nhận chú là cháu ruột vì đồng chí ấy là em trai của ông cụ đây, nhưng có lẽ gia đình e ngại nên không tiếp; nhưng đồngchí ấy muốn trở lại thăm gia đình chú nên nhờ phường thông báo trước, sáng mai lúc mười giờ, gia đình cố gắng thu xếp vì đồng chí ấy còn nhiều công tác khác”

Bố nói, vậy là lệnh rồi, ta phải tuân theo thôi, các con sửa soạn bình trà và đĩa bánh ngọt để bố tiếp khách.

Ông khách đến trong y phục thường, áo sơ-mi trắng, quần tây đen, ôm một cặp da.

“Tôi đã lên sở công an tra cứu hồ sơ, xác định tôi là Nguyễn Kim Dĩ em trai của Nguyễn Kim Dưỡng quê ở Hà Đông Bắc Việt, ông Dưỡng đã vào Nam làm đồn điền cao su từ những năm 1920, còn tôi làm phu mỏ than Hòn Gay. Trong kháng chiến tôi tham gia cách mạng lên chức cao dần. Đây là bản sao gia đình giữ làm bằng chứng.”

Bố tôi nói: “Nếu quả đúng như vậy thì ông là ông chú của các cháu Nguyễn thị Kim Hường và Nguyễn Kim Thuật, các con cúi chào ông chú đi”.

“Ông chú rất mừng là cách mạng đã đem lại hòa bình hạnh phúc đoàn tụ gia đình Bắc Nam sau khi đánh đuổi bọn Mỹ Ngụy”.

Bỗng Thuật đỏ mặt nói to: “Thưa ông chú, trong phạm vi gia đình cháu mới dám nói đoàn tụ gì đâu? Cả trăm ngàn gia đình ly tán, cha, chồng tù rừng sâu, vợ con vượt biên chết thảm trên biển; đây chị Hường là bằng chứng cụ thể, người yêu của chị chỉ là thợ máy tàu mà đi tù mấy năm đói khổ, chị ấy ngày đêm may vá ra mấy trăm cái áo rồi bỏ xó vì đâu có ai có tiền mua nữa, bố cháu đạp xe xích lô bị ho lao, trước còn có tiền mua thuốc, bây giờ tiền đâu; gạo ngon thì ai hưởng còn dân thì ăn bo bo; tàu buôn của cháu sắp dẹp vì có hàng đâu mà chở, cháu sẽ sống bằng gì? Lấy tiền đâu nuôi cha mẹ già? Người yêu của chị Hường và cả gia đình anh ấy là đại ân nhân của gia đình cháu, họ có là ngụy gì đâu? Họ đều là những người lương thiện cao quý, không lưu manh, trộm cắp, cướp bóc của ai, sao gọi họ là ngụy; ông chú nói quân miền Nam cầm súng Mỹ thì gọi là ngụy; thế quân miền Bắc cầm súng Nga Tầu thì gọi là gì?”

Ông cán bộ sững người, nhưng ông bình tĩnh nói: “Bây giờ người yêu của cháu Hường đang ở trại nào, ông chú sẽ xem xét hồ sơ của nó”.

Một tuần sau, ông báo tin: “Ngô Linh sắp được tha nhưng phải chuyển trại làm một công tác đặc biệt, ông chú đã can thiệp với trại cho phép con lên thăm nó một đêm trước khi nó đi.”

Trước khi từ giã, ông ta khuyên các cháu nên thận trọng lời nói trong giao tiếp xã hội.

Từ bữa đó, ông không bao giờ trở lại nữa.

***

Lễ Tạ Ơn năm nay, tháng 11-1997, tôi đóng cửa tiệm, nhưng ngồi một mình trong tiệm để khóc thật to không ai nghe thấy; cậu Thuật đã đi Cali cho cuộc phỏng vấn ở một công ty mới; con tôi, Khai đi chơi xa với các bạn học lớp cuối cùng trung học; còn bố mẹ ở nhà làm thức ăn cho ngày lễ.

Tôi muốn khóc thật to vì nhớ chồng quá, nhớ mấy lần lên thăm anh ở quân trường Thủ Đức năm 1967 đến nay đã ba mươi năm, hồi đó mình mới mười sáu, anh cứ nhìn mình chăm chăm khen “em đẹp lạ, lại giỏi giang ai lấy được em là đại phước”; nhớ đêm tân hôn trong rừng hai vợ chồng ân ái hạnh phúc, buổi sáng hôm sau rời xa anh mà không dám quay đầu lại, một lần cho vĩnh viễn. May mà mình giữ lại được giọt máu kế thừa, thương cho bố mẹ chồng, hai vị đại ân nhân qua đời không con cái bên cạnh. Con không trả ơn bố mẹ bằng tiển bạc nhưng bằng đứa cháu đich tôn, nhân Lễ Tạ Ơn con thầm khấn nguyện bố mẹ phù hộ cho cháu Khai thực hiện được ước mơ truyền thừa của ông cha nó.

Tôi vào rửa mặt chuẩn bị về nhà ăn gà tây mẹ nấu thì chuông điên thoại reo.

Giọng cậu Thuật vấn rổn-rảng nhưng hơi run run: “Chị ơi, em đang ở Cali, vừa đi phỏng vấn ở một công ty cần kỹ sư đóng tầu người Việt, ông giám đốc công ty là ai, chị biết không? Xin mời ông giám đốc trả lời cho chị tôi”

“Em yêu dấu, anh Ngô Linh đây”, giọng chàng nghẹn ngào “Cậu Thuật đã kể hết chuyện nhà cho anh nghe rồi, hai anh em sẽ mua vé máy bay khẩn cấp về với gia đình ngay chiều nay kịp ăn Lễ Tạ Ơn, tạ ơn ông bà phù hộ cho gia đình mình đoàn tụ”.

Tôi chỉ kêu lên “Ô anh yêu của em” rồi ngồi phịch xuống ghế; tôi không dám lái xe về, cơn xúc động bất ngờ làm tim tôi đập mạnh.

Tôi ngồi thật lâu tận hưởng niềm hạnh phúc tràn trề tưởng như không bao giờ xảy ra trong đời mình. Tôi nhớ câu nói của bố chồng khi chấp nhận tôi làm dâu “Rồi vợ chồng con sẽ đoàn tụ, trời không phụ kẻ có lòng con à”.

   

California ngày 1 tháng 1 năm 2026
Đào Ngọc Phong

 

 

 

 

Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/vanhocnghethuat/van/uocmotruyenthua.html


Cái Đình - 2026