Lan Anh


Có những nỗi buồn không thể đặt tên

   

<== Tranh: Sophie Jeanne Bert Debeusscher

       

Một mùa Thu Bắc Mỹ lại về, lá vàng  rơi xào xạc bên khung cửa nhỏ. Gió lạnh lùa qua từng khe cửa, len lỏi vào lòng người một cảm giác trống trải khó gọi thành tên. Bà H. ngồi lặng lẽ trong căn hộ nhỏ nơi cuối con đường Fry, bên ngoài là vườn cỏ đã úa màu, vài cụm cúc họa mi vẫn cố níu lại chút nắng cuối mùa. Bà đã sống ở Bắc Mỹ này tròn 20 mùa thu.

Hai mươi năm, một phần ba đời người. Hai mươi mùa lá rụng, cũng là từng ấy năm bà rời xa quê mẹ. Bỏ lại sau lưng Huế thương, con sông Hương hiền hòa, bờ tre, mái đình, giếng nước. Ngày sang đây theo con cái đoàn tụ, lòng bà rưng rức niềm vui xen lẫn lo âu. Niềm vui vì có con cháu sum vầy, nhưng cũng là lo lắng vì bước chân người già trên đất lạ, ngôn ngữ bất đồng, nếp sống khác biệt, tất cả đều khiến bà lạc lõng giữa biển người khác bà mái tóc, màu da.

Thời gian đầu, bà cố gắng làm quen. Học vài từ tiếng Anh để đi chợ, bắt chuyện với hàng xóm, chỉ được mỗi câu “ hê lô”, sau họ nói bà như người ngoài hành tinh khác đến. Rảnh rỗi bà  chăm sóc mấy luống rau sau vườn, lo cơm nước cho gia đình. Nhưng rồi con cái bận rộn công việc, cháu lớn dần, đi học, đi làm, cuối cùng mỗi người một ngả, vai trò của bà trong nhà cũng mờ nhạt dần theo năm tháng. Bà ở nhà nhiều hơn, ít giao tiếp hơn. Sức khỏe dần giảm sút, bà đi lại khó khăn, chẳng còn đủ sức chăm vườn rau hay đi bộ ra công viên như trước. Ngay cả ra thùng lấy thư vào nó khó hơn ngày xưa vào rừng chặt gánh củi. Cả tuần lo lắng những ngày đổ rác phải kéo hai cái thùng rác to như cái bồ đựng lúa ra và vào giữa những ngày bão tuyết .

Bạn bè ở đây cũng thưa dần. Người về quê, người mất, người vào viện dưỡng lão. Mỗi lần nhận được tin ai đó qua đời, tim bà lại nhói lên. Lòng tự hỏi không biết bà lên chuyến bay không số ấy lúc nào? Đám tang bên này lạnh lẽo, nhanh gọn, không có khói hương, không có tiếng khóc trầm buồn như ở quê. Nỗi cô đơn càng thêm thăm thẳm. Khát khao ngày giã từ được một hồi trống, tiếng kèn và nén nhang Trầm đưa tiễn, những điều ước mơ bình dị ấy nhưng rất khó xứ người. Một số “nhà quàn” cho đốt vài cây nhang, có chỗ thì không cho sợ ô nhiễm môi trường .

Nhiều đêm bà thức giấc giữa khuya. Nghe  tiếng gọi bạn già kêu đi gặt, đi móc khoai sau lũ. Ngoài trời, gió hú qua rặng phong. Trong nhà, chỉ có tiếng đồng hồ tích tắc. Bà nằm đó, mắt mở trừng trừng, lòng tràn ngập hoài niệm. Nhớ làng quê những chiều đông, khi lũ trẻ rủ nhau ra đồng mò cua bắt ốc, khi bà còn là cô gái tóc dài, áo nâu, chân đất chạy trên bờ ruộng, má ửng hồng. Nhớ những ngày lễ tết có mùi trầu cay, có ấm chè xanh thơm nức góc bếp, có tiếng rao của người bán bánh gai đầu ngõ, tiếng trống hội đình, lời ru mẹ ầu ơ thủa ấy bên dòng sông. Nhớ cung đình, mái chùa Thiên Mụ.

Tháng trước bà nắm tay tôi tâm sự :

– Trong đời bà có hai sai lầm lớn nhất, một là bán hết tài sản khi sang đây, hai là nhận hết tiền một lần không để hưởng tiền hưu tại Việt Nam. 

Nay muốn về lại quê hương cũng khó, sau cơn sốt đất dễ gì bà xây dựng được một nơi tá túc tuổi già.

Giờ đây, bà chỉ thèm một bát chè xanh đúng vị – nước chè mạn ủ trong ấm tích, rót ra chén nhỏ, uống đến đâu nghe vị chát đến đó, rồi hậu ngọt lan khắp cuống họng với miếng  mè xửng  đặc sản quê nhà. Thèm một miếng trầu têm cánh phượng, đỏ tươi môi già. Nhưng giữa lòng nước Mỹ hiện đại, bà tìm đâu ra những món ăn xa xỉ ấy. Thèm lối nhỏ cắt ngang qua vườn bà Khang, bà Tám. Thèm cả một ngọn gió Lào bỏng rát những tàu lá chuối sau hè.

Bà ước ao bụi trầu vàng leo bên gốc Phong lá đỏ, cây khế trĩu quả mỗi sáng chim chào mào về huyên náo giống vườn bà ở quê. Những ước ao  giản dị  mà những nhà khoa học hàng đầu chưa dám nghĩ đến, trầu, cau sao sống được trên  vùng Bắc Mỹ lạnh giá này. 

Bà nhớ tổ tiên, nhớ cha mẹ đã khuất, nhớ tuổi thơ chăn trâu bên triền sông Hương nhặt củi khô đốt lửa sưởi chiều đông. Nhớ mối tình đầu – anh trai làng học giỏi, hay mượn cớ ra đồng để gặp bà, trao nhau ánh mắt e ấp. Mối tình chưa kịp nở hoa đã tàn vì anh đi B rồi mất tích. Cả một đời, bà không quên được ánh mắt cuối cùng hôm chia tay nơi bến đò xưa ấy. Chiếc lược ngả màu và vẫn giữ đến hôm nay .

Có lần bà bị té trong nhà tắm, nằm đó mấy tiếng đồng hồ mới được hàng xóm phát hiện. Sau vụ đó, con cái bàn đưa bà vào viện dưỡng lão để có người chăm sóc. Ngày chuyển vào viện, trời đổ mưa. Bà ngồi lặng sau ô cửa kính xe, nước mắt lăn dài. Không phải vì không ai thương, mà vì không còn chỗ gọi là “nhà”. Nỗi cô đơn keo đặc từng ngày thành “sỏi” trong bà.

Trong viện dưỡng lão, bà gặp những cụ già khác, cũng là người Việt, cũng tha hương. Họ nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ, kể chuyện xưa, đọc thơ, ngâm câu vọng cổ. Mỗi người đều có mỗi hoài niệm riêng nhưng không ngoài dải đất hình chữ S thân thương.

Nhưng niềm vui ấy ngắn ngủi. Rồi ai cũng rơi vào cõi lặng của chính mình nơi mà trí nhớ dần phai, nơi ký ức nhòe mờ như khói sương, chỉ còn nỗi buồn là rõ nét.

Bà H. thường ra ngồi bên cửa sổ, tay lần tràng hạt, miệng lâm râm câu kinh Phật. Bà bảo, ở tuổi này, không mong gì hơn ngoài sự bình an. Mỗi lúc bà kết nối điện thoại với bạn bè, bà trút bầu tâm sự như chưa bao giờ được nói, bà ôm điện thoại như những chú dế gặp cành khô trong  cơn nước lũ. Nhưng tận sâu trong đáy mắt, người ta vẫn thấy lấp lánh một nỗi buồn, nỗi buồn của người đã đi gần hết cuộc đời, nhưng lòng vẫn neo lại bến quê.

Bà không trách ai. Cuộc sống là vậy. Người trẻ có con đường của họ, người già cũng phải học cách buông tay. Con cháu tuổi trẻ họ sống bằng thực tại, còn bà như xe hơi cổ, tay lái ngược thích tìm về hoài niệm, ký ức xa xăm.

Ở xứ người, mùa thu đẹp đến nao lòng nhưng buồn. Những chiếc lá phong đỏ rực rồi cũng úa tàn, rụng xuống gốc cây như đời người. Bà hay ngồi lặng ngắm lá rơi, viết những câu thơ bâng quơ như thả con thuyền giấy theo dòng không biết chúng về đâu . Nhớ những con đường, nhớ cả những con người xa lạ, nếu Vũ Thành An có 50 bản không tên thì bà có hàng trăm bản nhớ không thể gọi tên.

Tuổi già, dù ở đâu, cũng cần một nơi để nhớ, một điều để thương, một người để chờ. Với bà, tất cả đều nằm lại bên kia nửa vòng trái đất, nơi có dòng Hương trong xanh, có mái nhà tranh, có bát chè xanh nghi ngút khói, và có cả một thời đã xa. Nơi mỗi thớ đất có dấu chân cha mẹ, người thân và những mùa hoa bưởi quê hương ngào ngạt Xuân về.

   

Thu Bắc Mỹ    

Lan Anh

 

 

 

 

Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/vanhocnghethuat/van/conhungnoibuon.html


Cái Đình - 2026