Lê Thị Thanh Tâm
Bước xuống cuộc đời
1.- Lớp học bồi dưỡng nghiệp vụ
Bây giờ là những ngày hạnh phúc của Vân. Mỗi sáng được ôm cặp đi học như ngày nào, chỉ khác là không có người yêu để vào hội quán Văn hay vào thư viện thôi.
Buồn cười, Vân nhớ lại lần đầu tiên hai đứa hẹn gặp nhau ở trường. Nàng ngồi học mà không yên, hồi hộp, sốt ruột. Vân không biết đưa chàng đi đâu vì ngại tụi bạn chọc ghẹo, nên đưa vào thư viện. Thế là chàng trở thành cây đinh nơi đó, chỉ vì anh chàng đi học phải mặc đồ lính màu vàng của sinh viên quân y. Eo ơi! Nàng thẹn đỏ cả mặt. Ngày ấy cô nàng còn ngu ngơ quá, kỷ niệm ngày nào như mới đây, hai đứa thật dễ thương, mấy đứa bạn theo khen mãi.
Sau ngày tang thương của miền Nam. Và cho đến ngày học khóa sư phạm này, Vân gặp lại khá đầy đủ mấy đứa bạn xưa ở trường. Bọn chúng còn nhớ cuộc tình của Vân và hỏi thăm chàng. Thật không ngờ cả bọn lại thân ái cùng chui vào Bộ Giáo Dục. Nhờ thế lớp học rất thân mật và vui nhộn, và có lẽ Vân là người nổi bật nhất nhờ cuộc tình đẹp đẽ ấy. Nhờ thế mà nỗi buồn vì đất nước, gia đình, và bạn bè, cùng thành phố thân yêu đã thay đổi thảm khốc ấy, được nguôi ngoai.
Lớp dành cho các giáo chức, và nhân viên của Bộ Giáo Dục có đủ tiêu chuẩn. Chương trình học dành cho trường phổ thông cấp I vì đang thiếu trầm trọng giáo viên. Vân và các bạn tình nguyện ghi tên học, vì muốn có việc làm nhanh, không bị ngồi chờ suốt nửa năm nay. Vấn đề quan trọng của nàng là không bị học nhiều về môn chính trị như giáo viên trường cấp hai, vì các giáo điều chủ nghĩa CS làm mình đau đầu khó nuốt.
Lớp học tại Bộ Giáo Dục nên thoải mái và vui vẻ, vì cảnh và người đã quen thuộc. Giảng viên là những cán bộ đã tiếp thu bộ và các nha sở từ sau ngày 30-4, nên người cũ và mới khá quen nhau rồi. Nhờ đó họ giảng bài rất sống động, vui tươi và dễ hiểu, khiến bọn Vân say mê theo dõi, chỉ có hai ngày đầu về chính trị làm bọn Vân nghe không vô. Những ngày sau là các môn ngữ văn, khoa học thường thức và toán. Và cấp một phải học cả vẽ và nhạc nữa.
Vân và các bạn đi học cả ngày nên buổi trưa ở lại. Có hôm nàng mang cơm theo, có hôm ăn ngoài phố với các chị bạn. Hôm đầu ra phố Sài Gòn tìm quán các “quán cóc” để ăn trưa, Vân ngại ngùng khó mà ăn ngon miệng. Nhưng nghĩ đến sau này “bước xuống cuộc đời” rồi, vấn đề ăn uống sẽ thông qua một cách dễ dàng, vì thời gian sẽ dành cho lớp học nhiều hơn. Nhất là nghĩ đến giờ này người yêu đói no ấm lạnh thế nào, rồi nàng không thiết gì đến điều phiền toái này nhiều nữa. Và Vân ăn uống thoải mái ở các quán trên các vỉa hè Sài Gòn, vì sau ngày đổi tiền dân chúng nghèo quá, quán mọc nhiều như nấm.
Vân bắt đầu thấy thích dạy cấp 1, vì nàng rất yêu trẻ. Chúng ngoan và dễ uốn nắn, cử chỉ rất ngây thơ hơn trẻ cấp hai. Sau này nghe các bạn nói về các khó khăn khi dạy cấp hai, Vân mừng thầm rằng mình đã chọn đúng con đường cho mình đi: không cần danh vọng, mà chỉ cần yêu thương.
Điều quan trọng là dạy trẻ cấp vỡ lòng này là bước đầu tiên khai mở những trí óc non nớt và tương lai chúng có lẽ một phần ở nơi giáo viên dạy có tế nhị hay không. Vấn đề khó khăn nhất là chương trình chuyển tiếp cũ và mới, làm sao cho học sinh tiếp thu được đầy đủ là cả một nghệ thuật.
Ngoài triết lý của xã hội mới này, Vân cũng phải biết những công việc ở thôn quê, tìm hiểu những phương pháp để ứng dụng vào đời sống thực tế nơi đó.
Rồi cũng đến ngày cuối khoá, các học viên làm bài tổng kết. Ban giám khảo chấm điểm và tùy theo số điểm mà các giáo viên sẽ nhận việc gần nhà hay xa. Đây là thời điểm hồi hộp vô cùng, vì suốt nửa năm “họ” cho bọn Vân ngồi không xơi nước, vì tiền lương bị ngắt mất một nửa. Bây giờ nhận việc mới không do mình chọn, chỉ còn trông mong vào may mắn mà thôi. Cuối cùng kết quả danh sách đã niêm yết, kẻ khóc người cười như dạo còn đi thi của thời thơ ngây áo trắng.
Nhưng bây giờ sau mấy mươi năm, ngồi viết lại Vân mới hiểu rằng ngày ấy mình học lý thuyết thì dễ nhưng thực hành thật là khó, vì một người sanh trưởng ở thành phố lớn, khó mà sống lam lũ như dân quê, làm sao họ bắt giáo viên phải tìm phương pháp ứng dụng vào đời sống nơi đó thành công được? Vì nàng cũng đã hoà đồng với dân chúng rồi mà chỉ là cố gắng thôi, nó không thể là máu được. Nên chế độ con cóc muốn làm con bò ấy chỉ làm dân đau khổ mà thôi.
Đời sống mỗi ngày mỗi mới, nhưng với Vân mỗi ngày đời sống mình nhỏ bé hẳn lại. Bạn bè và người yêu đã vì cuộc “đổi đời” này mà chia xa, cho đến những đứa bạn học cùng khoá bồi dưỡng nghiệp vụ cấp tốc này, cũng bị chia nhau đi mỗi đứa mỗi ngả.
Vân và hai bạn được may mắn nhất, về vùng Cần Giuộc (1), chỉ cách Sài Gòn hơn ba mươi km. nhưng dạy khác xã. Phụng và Hoa dạy vùng hạ, xã Đông Thạnh và Phước Lại xa ngút ngàn, phải qua sông đi đò. Vân được về vùng thượng tốt nhất, vì gần đường đón xe về Sài Gòn, cách chợ Cần Giuộc chỉ bảy km. Nhưng dạo ấy xã hội đã thay đổi, đường đi lại quá nhiêu khê. Mỗi lần phải mua vé xe đò, đi xa thành phố là khổ cực trăm chiều.
Sợ ma
Ngày đầu Vân đến trường nhận lớp, một bóng chênh vênh nơi góc trời xa lạ, mông mênh ruộng đồng, nàng nghe bước chân mình xiêu lạc ưu phiền. Đời có mấy người thân?
Nhưng rồi ấn tượng tốt đẹp đầu tiên của nàng ở môi trường mới, là lòng tốt của các bạn trẻ đồng nghiệp: anh Thứ (hiệu trưởng), anh Soài (bình dân học vụ), và các giáo viên Lý, Nhàn và chị Thảnh, chị Bẩy… Ngôi trường nhỏ bé, chỉ có bốn lớp học, mái tôn và tường vôi trắng trống trải nhưng thoáng mát, giữa đám ruộng đang mùa khô, đất nứt nẻ trông càng thêm hoang vắng.
Vân mới về ở đây, buổi chiều dạy xong, học trò vừa tan, mặt trời lặn dần, hoàng hôn nhạt nhoà. Ôi, chiều về trên ruộng đồng buồn mông mênh. Vì chưa quen ở vùng quê thiếu tiện nghi, lại một mình xa nhà, Vân phải chịu đựng nỗi sợ ma khi màn đêm trở về, chỉ có ánh đèn dầu leo lét, tù mù chiếu không đủ sáng. Nàng sợ ma, vì ở đó nổi tiếng là ngã ba Vĩnh Biệt chứ không như tên thật đẹp của nó là “ngã ba Vĩnh Nguyên.” Vân nghe kể lại ngày trước, quân đội Cộng Hoà mình đi hành quân đến đây, thường bị du kích V.C. phục kích chết nhiều nhất. Vì vậy Vân càng sợ ma hơn.
Đêm đầu tiên đến nàng không ngủ được, đêm thật dài, có buồn tiểu cũng không biết đi đâu.
Vân ngủ chung với chị Thảnh và Lý, hai người đã ở trọ tại trường từ trước. Giường ngủ là mấy cái bàn học trò khá cao kê sát lại. Tối ngủ Vân chui vào kẹt màn nằm mà vẫn còn sợ. Buổi sáng nằm nghe chim hót gọi thức dậy, nàng mừng vô cùng. Nhìn lên mái nhà có mấy tổ chim, mỗi sáng chúng hót líu lo thật tuyệt vời, nhưng buổi tối nàng vẫn sợ.
Qua được một đêm là mừng một đêm…
Nhiều khi sợ quá Vân muốn bỏ về nhà để tha hồ ăn uống đầy đủ, bù lại những ngày thèm ăn ở trường. Dần dần nàng mất cả hứng thú của lần mới đến. Nàng thấy mệt mỏi và chán nản đến nỗi không còn thấy thương đàn trẻ dại khờ kia. Nhưng rồi nghĩ lại thấy mình là người may mắn, được nơi dạy tốt hơn bao nhiêu bạn khác, đã phải đi xa hàng trăm cây số và chịu rất nhiều khó khăn, đến nổi phải bỏ việc, về Sài Gòn bán khoai bắp, thì tang thương hơn mình nhiều. Thế là nàng vui lại để cố gắng đi tiếp.
Ban đêm Vân sợ ma, và cũng sợ người nữa. Ban ngày khổ vì thiếu nước ngọt dùng, vì trước kia chiến tranh vấn đề đô thị hoá chưa thi hành được, dù ở đây có rất nhiều sông rạch nhưng tất cả đều bị nhiễm mặn do gần biển Đông, lại nhiều phèn nên nước không uống được. Nếu đóng giếng phải thật sâu cả trăm mét nước mới dùng được.
Ngày ấy do chiến tranh, đa số dân nghèo lo làm ruộng đủ ăn, nói gì đến cái giếng xa xỉ ấy. Nhà nào cũng có nhiều lu, khạp to nhỏ để hứng nước mưa và nước ngọt từ xe hàng ở Sài Gòn đem đến bán. Các nhà gần lộ khi xe nước đến, họ mua trữ vào các thùng phi to để bán lại cho dân từ các ấp xa xôi đi cả buổi mới đến nơi, gánh về. Vì vậy nhiều nhà đào ao nuôi cá, vịt và dùng nước ấy để rửa ráy. Trường học có một cái lu sành vừa đủ to để hứng nước mưa và chứa nước ngọt cho các giáo viên dùng.
Trường thuộc xã Long An, cách chợ Cần Giuộc gần bảy km. Từ đường lộ chính vào đến trường hơn nửa cây số. Con đường đất cao chạy dài ngút ngàn vào tận các ấp xa mênh mông. Vì vậy các giáo viên ở trọ tại trường thường “tu tiên,” nhưng chưa bằng đám học trò nhỏ nghèo nàn thiếu ăn, thiếu mặc, xa hẳn ánh sáng văn minh, trông chúng ngờ nghệch đến tội kia. Nhìn đám trẻ bé bỏng áo quần mỏng manh dơ bẩn, đứng quanh gánh quà rong nghèo nàn của dì Tám bán trước trường với đôi mắt đói thèm, làm Vân xót xa. Làm sao cho lớp trẻ này thoát khỏi đời tăm tối từ muôn kiếp của ông cha chúng để lại? Nàng hay nghĩ đến điều ấy rồi buồn.
Dần dần Vân mới biết đời sống dân quê tuy nghèo nhưng lại đậm đà tình nghĩa rất đáng quý. Cũng như các ông say rượu là chuyện thường. Hôm Vân đang ngồi nấu cơm, bỗng có một ông say lè nhè, cứ đi thẳng vào trường không xin phép gì cả, làm Vân giật mình. Ông nói chuyện thật thà đến ngây ngô, làm nàng thấy mến ông. Trước khi về, ông hứa cho củi các thầy cô dùng vì đã dạy học con của ông.
Đến lúc ngồi ăn cơm tối, có Thứ ở lại cùng ăn, thì lại có một ông say nữa ghé vào trường, và cứ đi thẳng tuột vào trong vì cửa phòng luôn mở. Lần này là chú Sáu thầy thuốc, đã xem bói cho các cô giáo hôm trước. Chú nói chuyện tếu quá làm cả bàn đang ăn mà cứ cười muốn pể bụng. Vân và Lý bấm tay nhau ra hàng hiên để cười cho đã.
Chú Sáu có hàm răng sún trông ngồ ngộ, vui vui nên khi nói chuyện lại càng tếu hơn. Ông nhất định đòi các cô phải nấu cháo vịt ngay tối đó, làm ai cũng giật mình vì đã dùng cơm no quá rồi. Không ngờ ông xách con vịt qua cho thật, khiến bọn Vân cảm động, ông thật thà và có ăn học. Vân thầm cảm ơn ông đã cho mình những nụ cười tự do, thỏai mái, cười đến đau bụng. Nhưng phải khất ông ta đến tối mai mới nấu cháo vịt này được.
Chiều hôm sau ăn cháo chay xong, tối đến chị Thảnh lại làm con vịt ấy. Chị làm vịt rất giỏi và nấu một nồi cháo ngon tuyệt cú mèo. Thứ cũng có mặt và anh Soài đã sang trường ở ấp Long Đong về tối quá, phải ở lại cùng ăn. Lúc ăn, mấy đứa đùa giỡn giành nhau đĩa nhiều và ngon, làm cả bọn cười từng tràng dài như đám hội. Hạnh phúc nhỏ nhoi ấy chỉ là một con vịt trong thời thiếu ăn này thôi.
Trong trường có Lý và Nhàn bé hơn Vân một tuổi, nhưng rất già dặn. Lý đẹp mặn mà, nước da bánh mật, má lúm đồng tiền và mắt biếc môi xinh, thật xứng đôi với chàng “babylac” Thứ này. Nhưng không phải như vậy, vì anh ta vẫn vô tư và đứng đắn với các nữ giáo viên. Hình như Lý còn đang gieo cầu, ai đây?
Nhàn thua kém mọi người về nhan sắc. Cô ta có đôi mắt buồn khá đẹp, nhưng nụ cười ẩn chứa cái tâm không thiện lành. Thỉnh thoảng Nhàn ngồi buồn bã nhìn ra cánh đồng hoang vắng, hát nghêu ngao mấy bài ca thất tình rất “sến.” Thỉnh thoảng nó đưa ánh mắt long lanh si tình nhìn Thứ thật tha thiết… Ôi, cả bầu trời đau khổ.
Thứ cũng khá lịch sự, nhưng lúc đầu Vân ngại ngùng rất giữ ý. Khi quen khá thân, nàng xem anh ta như trong gia đình, dù thật ra không thể nào là anh hay chị em được, vì nhiều khi Vân nhìn thẳng vào đôi mắt vô tư đó, nàng bắt gặp một tia lửa ấm êm đềm. Vân nghĩ điều ấy đã sai lầm. Nhưng nhờ đó, nàng phát giác ra lý do tại sao Lý và Nhàn ngầm ganh tỵ với mình như vậy.
Ôi, chỉ vì Vân mãi sợ ma mà không để ý đến chuyện này. Tuổi trẻ vô tư nên cũng chẳng là vấn đề, nếu mình giữ lòng trong sáng.
Tối hôm ấy cả bọn ngủ cũng vui, anh Soài và Thứ ngủ trấn cửa phòng cho các cô bên trong. Khuya năm giờ cả bọn dậy đi cúng bên chùa, thấy Lý và chị Thảnh còn ngủ. Vân gọi: “Hỡi các con chiên ngoan đạo.” Làm cả bọn bật cười vui vẻ.
Cúng sáng thật siêu thoát, nhưng rồi Vân cứ… sợ ma.
***
2.- Lớp bình dân học vụ
Hôm đầu Vân đến nhận việc khi các lớp bình dân học vụ đang còn được nghỉ Tết. Vài tuần sau có tin không vui là các giáo viên phải tiếp tục dạy các lớp này và phải phân tán mỏng và lội sâu vào tận hẻm hóc, để tập hợp các học viên làm lớp học. Trước đó các học viên đi đến trường để học. Nhưng rồi họ đã mệt mỏi vì nhà xa mà trời lại tối, nên họ không chịu đi nữa. Thế là giáo viên phải ra quân, theo lệnh của “thống soái” Soài.
Làm sao cơm nước no lòng, nhất là ai có lớp dạy ca chiều xong, chỉ ăn qua loa tí chút là phải đi rồi. Nhiều hôm giáo viên đi lang thang khi chiều chưa tắt nắng. Trời thật nóng bức không một bóng cây râm mát, chỉ có con đường nắng loá dài lê thê chạy đến các ấp xa ngút ngàn. Nào có ai nghĩ đến cái khó nhọc của giáo viên. Bà con cũng rất nghèo, lấy gì đãi cho các cô thầy giáo dù là một củ khoai!
Ở đây, cái nghèo có khi chỉ là một nồi chè khoai mỡ, mà cả bọn ăn thật ngon lành. Có một lần vội đi xuống trường, Vân quên mang gạo theo, khiến có một ngày cả bọn bị đói, trưa phải mua hủ tiếu khô dưới quán ăn trừ cơm. Nhưng sau đó anh Soài và Thứ mang gạo đến tiếp tế ngay.
Tình nghĩa ấy làm Vân cảm động vô cùng.
Một hôm chả biết anh Soài đi đâu về mà say rượu ngã nghiêng làm Vân sợ quá. Bỗng dưng nàng thấy đời mỏng manh vô lý, khi nhìn anh lắc lư theo cơn say. Nhưng nhờ đó anh đã bật mở ra nỗi buồn khổ tâm vì lớp bình dân học vụ không tiến bộ được. Anh buồn nên mượn rượu giải sầu. Thấy tội và thương anh cũng vì trách nhiệm và miếng cơm. Điều khiến Vân cảm động vì anh đã nhiều lần chịu đựng nghe những lời đay nghiến của chủ tịch phòng giáo dục, chỉ vì anh thương bọn Vân phải lội sâu xuống các ấp xa kia quá cực nhọc, nhất là Vân mới từ Sài Gòn đến. Tuy Lý cũng ở Sài Gòn nhưng đã quen được khó nhọc này rồi, chỉ có chị Bẩy và Nhàn là giáo viên xã ấp rành rẽ địa thế, thì anh yên lòng.
Trong cơn rượu hành anh Soài đòi bỏ vợ con làm Vân chua chát, thấy thân phận người phụ nữ như món đồ chơi bỏ vào túi, và lấy ra vứt đi lúc nào cũng được.
Rồi tuần sau, anh ấy đãi bọn Vân một chầu cháo vịt của nhà nuôi, thích lắm. Có phải anh muốn xin lỗi vì đã say rượu là điều không đẹp dưới mắt các cô, hay anh muốn các bạn có buổi cơm ngon và những nụ cười vui trong cảnh xã hội lầm than này?
Vân muốn nói với các bạn rằng chính sách này không sáng suốt, vì không nhìn thấy yếu tố chính là nhân dân. Người dân nghèo lại bị chánh quyền CS chèn ép đến đói khổ quá, thì làm sao họ học được? Chao ôi! những bà mẹ quê mùa không cần đọc sách báo, mà chỉ cần đủ ăn mà thôi.
Các bạn cũng ngầm công nhận điều ấy đúng, nhưng không dám nói ra.
Những buổi chiều vàng rảnh rỗi, các bạn rủ Vân lội ruộng xuống chơi nhà chị Tiến và chị Lành. Hai chị trên ba mươi tuổi nên thương các cô giáo trẻ như em mình. Khi miền Nam tan hoang, chồng chị Tiến bỏ đi Mỹ mất, còn chồng chị Lành thì có vợ bé. Hai ông này đều là sỹ quan cấp cao, nên hai chị đau quá chửi cách mạng nhoi trời đất.
Có nhìn thấy cảnh dân quê lam lũ chân lấm tay bùn, nắng cháy da người nơi đây, mới thấy thương họ. Người dân quê kiếm gạo xót con mắt không như dân thành phố. Nhưng bây giờ dân ở thành và quê đều bị đe dọa nạn đói, khi nhà nước bắt nông dân đóng thuế thật cao và cấm chở gạo lên thành. Dân càng đói khổ càng chửi tưng bừng, không sợ ai nữa cả, mặc dù số người này bị công an bắt đi tù nhiều lắm, nhất là ở Sài Gòn, Vân đã hiểu tại sao CS bắt dân quê đói, họ sợ dân sẽ tiếp tế gạo cho người trong bưng, giống như họ trước kia.
***
Rồi Vân cảm thấy mệt mỏi ở những phút buông bảng rời phấn, hò hét học trò.
Buổi sáng vừa nghe tiếng chuông chùa vọng lại, ba đứa tốc chăn dậy, vội vã súc miệng thay áo qua chùa lễ Phật, và trời còn tối mờ, cỏ ướt đẫm sương đêm. Vân vội vàng vuốt mặt, cố mở to mắt nhìn lên chánh điện lẩm nhẩm câu kinh, tiếng còn tiếng mất, mà thèm được ngủ lại giấc còn dang dở.
Buổi cúng sớm vừa xong, tiếng chuông còn vang theo câu kinh nguyện, cả bọn lủi thủi ra về, chợt nàng thấy đời vô vị, nhưng lại nghe lòng nhẹ tênh. Nàng tự hỏi tại sao con người lại ham mê dục vọng nhiều như vậy, và rồi mình sẽ ra sao trên con đường cô độc này?
Một hôm lễ Phật xong xuống nhà ngang, một bác tóc bạc hiền lành hỏi chuyện:
– Lúc đang cúng, mấy cô giáo có nhìn cái cửa kiếng sau chánh điện không?
Cả bọn ngạc nhiên lắc đầu, bà nói tiếp:
– Tui đi cúng mỗi ngày đều đặn hơn mấy cô giáo bên trường, mà hôm nào tui cũng thấy cái bóng trắng đó đứng hoài ở cửa này nè. Tui đi xuống coi thì nó biến mất liền.
Eo ơi! nghe bà nói mà cả bọn nổi da gà, không dám đi cúng. Nhưng rồi vài tuần sau cứ năm giờ sáng nghe tiếng chuông chùa ngân vang gọi dậy, là ba đứa lại rủ nhau đi nữa.
Những buổi hoàng hôn về trên ruộng đồng, Vân rưng rưng lặng ngắm từng sợi tơ buồn vu vơ. Tuổi trẻ đã bịt ngõ nàng nơi này, và đời sống chai lỳ sắp sửa biến nàng thành một con người mới: chững chạc hơn và sẽ lặng lẽ cuốn mất hồn nhiên đi. Ta lớn thật rồi ư?
Buổi tối ngồi nhìn trời đầy sao, trăng đã lên và trong vắt màu vàng sương khói, thật đẹp. Nàng nhớ người thân và người yêu, muốn bưng mặt khóc, mà sao đôi mắt ráo hoảnh. Nàng đã quên anh rồi ư? Nào có thế, tình xa nên tình nhớ, lòng dưng dưng nghe ngọn sóng trùng trùng trở về – ngày anh về còn bao xa?
Vào mùa nắng, thỉnh thoảng dân trong xã thiếu nước uống vì xe nước Sài Gòn không đến, giáo viên phải mua dưa hấu ăn thay uống nước. Những trái dưa hấu nho nhỏ ruột trắng non xèo chả ngon lành gì, nhưng được đầy nước để tạm giải khát, vì ai cũng nghèo như nhau, nhất là những giáo viên ở thành phố.
Hôm Vân ngồi ăn dưa hấu và đàm đạo cùng anh Soài và Thứ, họ kể những kỷ niệm ngày trước thật vui. Vân hỏi về tên Soài của anh, có phải xuất xứ từ nơi này, có con sông lớn Soài Rạp chảy ngang không. Anh Soài ngạc nhiên vui mừng vì có người hiểu đúng ý nghĩa tên của anh, không như mọi người cứ tưởng là tên trái cây. Anh nói thằng em tên Rạp thì còn khổ hơn anh nữa, vì lúc đi học nó bị bạn chọc ghẹo muốn khùng luôn.
Vân nói về những tư tưởng của mình. Chả biết đắc ý thế nào mà anh Soài vui quá, bèn đứng lên quẩy hai thùng thiếc đi gánh nước về cho cả nhóm dùng. Vân, Lý đều ngạc nhiên nhìn theo, mừng reo cười đến đau cả bụng, vì việc này anh chưa làm bao giờ. Anh làm biếng đến chảy nhớt mà hôm ấy bỗng siêng năng, cũng lạ!
Công tác lao động
Mỗi tuần vào ngày thứ năm cả trường phải làm công tác lao động rất vui. Hào thì sâu mà đất ruộng sau khi mưa lại nhầy nhụa dơ bẩn, bọn nhóc phải leo xuống đào đất, móc từng cục chuyền tay nhau để đắp đường đi quanh trường.
Nhìn những đôi tay bé tí xíu ôm từng cục đất to nặng, Vân thương muốn khóc. Nàng chạy theo để giữ quần áo các em và ôm đất, nên chân tay nàng cũng lấm đầy bùn đen. Đến khi cả thầy trò đều mệt và đói mà vẫn còn làm, vì học trò lớp hai của Vân nhất định ở lại làm, cho đến khi các cô thầy về chúng mới chịu về. Thương vô cùng.
Thỉnh thoảng có đi lao động như vậy, Vân thấy thú vị và yêu thôn quê hơn. Nhưng tiêu chuẩn mỗi tuần phải làm thì Vân bướng bỉnh không đi. Nàng chả sợ bạn đồng nghiệp hay ban giám hiệu phê bình gì cả. Vì nàng thương trẻ con bị lao động quá vô lý, hết xuống hào sâu rồi lại xuống ruộng bưng đất lên. Nếu cứ đắp đường đi hoài thì đến lúc chả còn đất đâu mà đắp.
Rồi con đường chung quanh trường càng lúc càng cao để làm gì? Tại sao không xót thương lũ trẻ nghèo mau đói, lấy gì cho chúng ăn sau khi lao động này? Nhưng đó là chỉ thị của phòng giáo dục, lại gặp hiệu trưởng trẻ mới nhận chức nên nhát hơn thỏ đế, muốn các giáo viên phải thi hành dù không có nơi để cho học sinh làm lao động. Vì thế các đồng nghiệp bảo Vân tiểu thơ quá.
Trường học có ít lớp mà học sinh lại quá đông, nên phải chia hai ca sáng chiều. Các giáo viên thay nhau mỗi tuần dạy suốt ngày hay nửa ngày. Tuần nào Vân dạy một buổi, khá rảnh rỗi để làm cơm trưa. Một hôm các bạn bắt được một con cua lột ở ao bên chùa. Nàng xào cua chua ngọt thêm hành tiêu vào, ăn ngon tuyệt cú mèo. Từ đó các bạn gọi nàng là “cô thợ nấu.” Thế thì cái tên tiểu thơ kia có còn không?
Từ từ lớp bình dân học vụ ở đây tổ chức khá tốt hơn ở thành phố nhiều. Các giáo viên đã mở được từ ba đến bốn lớp học. Bọn Vân phải đi qua các ruộng sâu, vào tận các xã ấp để mời từng nhà đi học. Phải năn nỉ họ và bằng mọi cách phải tổ chức cho được. Anh Soài đến trường đi theo các lớp bình dân học vụ mỗi tối nhiều hơn lúc trước.
Có lần bọn Vân dạy xong bỗng trời đổ mưa to, sấm chớp ầm ầm làm đứa nào cũng sợ ríu vào nhau, không còn biết đường về nữa. Thật may lúc ấy anh Soài từ nhà ai xuất hiện, gọi cả đám vào trú mưa, cả bọn mừng quá vào căn nhà ấy. Ôi, thật ấm và rộng, có đèn “manchon” sáng rực. Chủ nhà mời trà nước khiến cả bọn ấm lòng vô cùng. Ở đây, những nhà giàu thường dùng loại đèn manchon này, họ sống cách biệt và kín đáo vì sợ cướp. Sau ngày đổi đời, họ càng rút vào vỏ sò hơn nữa, nên có vài nhà bọn Vân mời đi học hoài họ vẫn từ chối, không cần biết đến thế giới bên ngoài.
Họ sợ là đúng, vì cướp ban đêm là dân nghèo, còn cướp ban ngày là bọn huyện, xã và du kích dựa hơi để kiếm ăn. Ai tin được ai? Nhưng anh Soài lại thân mật được với các nhà giàu này, có nghĩa là anh đã được lòng tin yêu với các bà con trong vùng. Nhờ vậy từ từ công việc của anh và bọn Vân đã có tiến bộ rất nhiều. Anh không còn bị anh tư trưởng phòng giáo dục rầy la nữa.
Đám giỗ - đám cưới
Dân quê rất trọng thầy cô giáo nên hay mời dự đám giỗ nhà họ. Lần đầu được mời, Vân nhớ mãi là trưa hôm thứ bẩy, học trò mời các thầy cô ăn đám giỗ nhà thằng Chín Cu nào đã để ý chị Thảnh. Chị là dân tỉnh Long An, dáng cao gầy hơn Lý nên đẹp và hồn nhiên, các trai làng để ý.
Cũng như các nàng thôn nữ khi đi ngang trường thì cố ý đi thật chậm để nhìn vào tìm chàng Thứ công tử. Vì vậy hôm ấy được dịp cả bọn trêu chị Thảnh cho bằng thích, làm chị thẹn đỏ cả mặt. Vân cũng thích đi cho biết đám giỗ nhà quê, nhất là ai cũng muốn ăn một mách cho đã, vì mấy ngày phải nhịn thèm.
Trưa hôm ấy dạy xong, cả bọn hùn nhau mua một ổ bánh bông lan làm quà, rồi sáu tên kéo nhau đi. Trời trưa nắng mà đường xa ngút ngàn, qua mấy trăm ô ruộng và hai cái cầu khỉ cheo leo mới đến nhà thằng Chín Cu. Đến trước cổng nhà đã thấy ba đứa học trò chạy ra đón mừng thật ngoan, làm Vân cảm động.
Nhưng vào đến bàn ăn nàng mới chán chường, vì ba ông chủ nhà ra đón là ba ông nhậu, phần đông đàn ông ở đây đa số là sâu rượu. Họ rất thích nói chữ nho và văn chương nghe buồn cười, nhưng nghe quen thấy cũng hay hay. Cũng như cả bọn rất khó chịu, vì thói quen của dân nhậu là cố ép khách uống rượu, khiến Vân lo sẽ ép đến mình. Nhưng rồi các cô được tha còn các thầy ngồi bàn trên, bị ép uống rượu tơi bời, nhất là Thứ không quen uống, anh ta nhăn mặt đau khổ như khỉ ăn ớt, làm bà con ngồi dưới này cười mãi. Buổi ăn khá vui, các cô ngồi bàn dưới tha hồ ăn ngon, nhờ các bà tiếp khách rất chân thành hơn dân thành phố, chỉ tiếc là các món ăn họ làm có mùi tanh tanh, có thể vì thiếu nước sạch để rửa chăng?
Lúc trở về thì “ngựa phi ngựa phi đường xa” và nắng loá cháy đến mờ cả mắt, vì tất cả cái nóng một ngày dồn hết vào cuối chiều. Cả đám mệt mỏi lếch thếch về trường, và hẹn nhau sẽ không bao giờ đi ăn đám giỗ nhà ai nữa.
Thế nhưng không giỗ thì cưới. Chị Bẩy và anh Đức đưa thiệp mời cả trường dự đám cưới họ. Anh Đức không bị đi học tập cải tạo nhờ anh là trung sĩ, nên chỉ học vài ngày thôi. Nét mặt anh buồn buồn như mọi anh lính thất trận bị về quê làm ruộng. Rồi đời sẽ ra sao?
Anh Đức cất một căn nhà gỗ khá rộng rãi, chung quanh có vườn cây, cách trường không xa để chị Bẩy dễ đi dạy. Ai đi ngang nhà anh cũng ngắm nhìn, vì đúng là mái nhà tranh hai quả tim vàng của chuyện tình đến hồi kết thúc. Mối tình của anh chị hạnh phúc êm đềm vì là bạn chung trường từ ngày còn nhỏ.
Nhưng đến gần ngày cưới thì nhà trai dời ngày lại, làm chị Bẩy quê, nên giận khóc. Vân theo chị nói đùa cho chị vui. Chị biết các bạn đều mua quà cưới cả rồi nên năn nỉ mua lại hết, thật tội cho chị. Vân bảo các bạn cứ gửi quà lại, chờ khi có đám cưới sẽ mang tặng, nên chị yên tâm. Chị nói tại chị tuổi dần nên họ làm eo như vậy. Vân không tin chuyện dị đoan, cuộc đời mình tùy theo cách mình sống. Vân nói nếu chị không tin thì sẽ không bị lo lắng gì cả, còn ngược lại đã tin thì phải kiêng cữ là tốt nhất. Chị ừ, vì gia đình chị sống theo cổ tục muôn đời, rất khó thay đổi.
Như để xin lỗi, chị mời các bạn đến nhà ba má chị chơi một ngày, để đãi một màn cháo vịt cùng các món ăn cơm. Hôm ấy sáu đứa kéo nhau đến nhà chị thật vui. Nhà ba má chị rộng rãi rất thoải mái và các anh em rất dễ thương, thật thà. Má chị nấu cháo vịt và có canh khổ qua vịt nữa. Bà bầm luôn cả xương vịt thật nhuyễn để dồn vào trái khổ qua. Bà làm rất khéo và ngon, lần đầu Vân được thưởng thức món ăn quê mùa mộc mạc này. Ăn xong no quá, nhưng lại ra vườn hái tầm ruột ngọt làm một chầu nữa, thật vui.
Má chị là người đàn bà giỏi, đảm đang. Bà thức khuya dậy sớm để nấu rượu đi bán, nên nhà khá giả. Mặc dù cực nhọc đi khuya về muộn, và bị căng thẳng vì bán rượu chui, nhưng bà rất khoẻ và vui vẻ hiếu khách. Ra về cả bọn cám ơn gia đình chị Bẩy đã cho một ngày vui, cảm động.
Hôm sau anh Đức lại đãi một chầu cary và cháo vịt nữa, ở nhà mới của anh chị. Cả bọn được dịp vào xem căn nhà lý tưởng ấy. Nhà rộng sạch, nền tráng ciment láng rất đẹp, nhất là gió từ ruộng lồng lộng thổi vào mát mẻ suốt ngày. Tuy ở quê nhưng anh chị biết chọn tủ bàn rất mode, ai cũng khen. Hôm ấy cả bọn lại ăn tưng bừng cho bỏ những ngày bị ăn kham khổ. Ở đây họ thường nấu cháo vịt vì tiện lợi, cây nhà lá vườn.
Có lần nhà anh Soài có đám giỗ, anh mang bánh ít, bánh tét, thịt gà và cháo vịt đến trường cho cả bọn dùng. Anh ấy thương Vân như em trong nhà vì anh không có em gái. Có những buổi tối Vân và anh ngồi nói chuyện rất lâu. Vân học hỏi chuyện sống đời của anh, tâm hồn anh có chiều sâu khác mọi người. Anh thường trầm ngâm buồn khi thấy cảnh đời đổi thay này.
Vân bảo nàng sẽ giữ thuyết “trung dung” này đến suốt đời, vì đó là con đường tốt nhất. Anh đồng ý, và hy vọng người phối ngẫu của Vân sau này sẽ như vậy. Nàng bảo không hy vọng có người giống như mình đâu, khi ấy sẽ sống độc thân là tốt hơn.
Hôm ấy anh muốn xem bói tuổi cha mẹ và con cái cho bọn Vân, nàng cười không tin chuyện này, nhưng anh bảo bói khoa học, không phải bói “thầy rùa” đâu. Thế nên khi anh xem cho Lý và Vân thì hữu duyên, rất tốt nhưng đến Nhàn quả lại rất xấu, “vô duyên,” làm nó ngồi buồn thẫn thờ.
***
3.- Đồng nghiệp mới và đám cưới quê
Vân dạy được hơn hai tháng thì vợ chồng Hùng-Tân và người đẹp Bạch Tuyết xin đổi về dạy trường gần nhà ở cầu Thuận Thành. Tuyết là hoa khôi của huyện Cần Giuộc này. Chỉ tiếc là Tuyết ít có dịp gần các đồng nghiệp, vì mỗi sáng hai vợ chồng đèo Honda đến trường, dạy xong lại về ngay vì Tân còn mẹ già ở nhà. Họ hạnh phúc lắm dù rằng “nhan sắc” của họ thì một trời một vực, nhưng tâm tánh Tân rất xứng đáng làm người chồng tốt, đem bóng mát che chở cho vợ, điều đó cần thiết hơn là đẹp người mà xấu nết.
Sau đó Thứ bảo Vân dạy lớp năm của Tân, để đến hè cho học sinh thi vào trường cấp hai, còn hai lớp của Vân và Tuyết thì anh sẽ dạy tạm, để chờ giáo viên mới đến nhận lớp. Bọn học trò lớp năm thấy cô giáo mới, tuy có nể nang nhưng chúng rất khó thương, nhất là những đứa lớn cứ lầm lì nhìn Vân với ánh mắt không thiện cảm. Nàng không biết gia đình các học sinh này thuộc phe quốc gia hay cộng sản nằm vùng, vì thời mới chuyển tiếp này rất khó làm việc, và về đạo đức tư tưởng rất khó dạy. Một phần Vân không thể bẻ cong tư tưởng mình theo chương trình mới của CS được. Nàng chỉ như con két đọc lại bài học cho chúng hiểu mà thôi. Vì vậy trách nhiệm lớp năm rất nặng, vì học trò đã có ý thức ít nhiều về tình hình xã hội, hơn những đứa trẻ ở các lớp dưới. Vân phải cố gắng dạy chúng cho đến hè.
Một hôm nhìn ra con đường làng cao kia, các giáo viên đều nhận ra anh bạn đồng nghiệp mới của mình đang lang thang đi về phía trường. Anh ta đi dưới nắng gay gắt mặt đỏ như gà chọi và mái tóc đen nâu dài đến mang tai, lâu lâu anh lại hất lên, thì rõ ràng anh ta là dân Sài Gòn, chứ không phải là trai làng nơi đây.
Đấy là Duy mới chuyển đến. Đứng lớp ngày đầu mà anh bị học sinh miền Nam kỳ thị giọng nói Hà Nội cũ, lạ hoắc rồi. Lúc ấy các vùng quê miền Nam học trò không nghe được tiếng miền Bắc và miền Trung. Nhưng may mắn chỉ vài hôm sau Duy đã chinh phục lũ trẻ này được, có lẽ nhờ anh có tướng đi rất vững chãi của nhà võ, cùng giọng nói ấm ngân vang nhiều nội lực, khiến lũ trẻ đã bị hớp hồn rồi. Từ đó chúng hay đi học thật sớm để lén nhìn ông thầy Bắc kỳ dậy sớm, đứng xuống tấn tập võ, múa các chiêu vô cùng ngoạn mục làm chúng lác cả mắt.
Buổi tối Duy ngủ ở các lớp học rộng rãi nhưng không có cửa, tha hồ chơi với muỗi. Duy ít nói và bọn Vân cũng giữ ý với nam giáo viên nên không dám hỏi xem anh ngủ có được không, vì chả thấy Duy có chăn màn gì cả.
Một chiều xám buồn sắp mưa, Duy ngồi tâm sự về nỗi buồn của gia đình anh, bây giờ bỗng chốc nghèo nàn thiếu thốn mọi thứ, căn nhà rộng rãi đầy đủ trước kia, giờ đã trống bóc, vì bố mẹ phải bán đồ đạc để ăn dần, như hoàn cảnh chung của cả miền Nam lúc ấy. Anh rất bộc trực và có chí khí, nhưng về đây dạy rồi Duy cũng có ý tưởng như Vân: tuổi trẻ đã bị bít kín rồi.
Một hôm Vân nghe tiếng Duy quát tháo học trò trong lớp, anh gầm to lên như hổ và bỏ lớp đi về văn phòng tìm nước uống, mặt đỏ như gấc chín. Thì ra có đứa học trò vụng dại nói câu xúc phạm anh và chế độ cũ. Bây giờ anh đã hiểu học sinh của mình đứa nào thuộc gia đình CS nằm vùng và đứa nào của quốc gia rồi. Vân định bảo Duy hãy dạy lớp nhỏ vì chúng ngoan hơn lớp lớn. Nhưng điều đó chắc anh không làm như nàng, vì nếu sợ thì không thể nào làm việc lâu ở đất nước mình.
Thứ năm là ngày lao động buổi sáng, chiều giáo viên họp tổ hay nghỉ ngơi. Ngày này có bốn giáo viên của trường phụ bên ấp Long Đong đến họp tổ chung, nên rất nhộn nhịp. Ồn ào nhất là Hào nói chuyện luôn mồm vui vẻ với ban giám hiệu, nhưng chị Ba, vợ anh lại nhu mì, chỉ ngồi lo chăm sóc thằng cu tí còn bú mẹ.
Ngoài ra còn có chị Thái, đẹp hiền dịu với làn da khá trắng mịn. Và Hồng SG xinh xắn, trẻ nhất trường và thích săn sóc sắc đẹp. Cô nàng có mái tóc thật dài đến mông và tỉa cắt khéo léo theo model. Dù thời ấy các cô phải mặc áo bà ba quần đen, nhưng nếu khéo biết chọn kiểu may và hàng vải, thì thời nào cũng đều đẹp cả.
Nhiều giáo viên của hai trường, xuất thân từ trường sư phạm Sài Gòn và Long An, không có giáo viên cán bộ ngoài Bắc vào, nên bầu không khí khá thoải mái, thân mật như một gia đình, nhất là Hồng luôn cười đùa với Vân, khoe chiếc răng khểnh thật duyên. Và nhờ những tiếng cười giòn ấy làm không khí thêm ấm áp, vui vẻ trong các buổi họp bị căng thẳng, giúp Vân được chút thư giãn.
Thỉnh thoảng vợ chồng Hào mua nhiều mỡ heo, vì bận họp tổ nên họ đem qua trường để thắng ra mỡ nước. Thời buổi bao cấp ấy mấy ai mua được thịt mỡ ăn xài như anh? nên Hào có vẻ hãnh diện và thỏa mãn với cái đầy đủ của mình. Hãy nhìn xem một nồi mỡ tươi ngon, thơm ngậy bốc mùi quyến rũ các bao tử lép kẹp suốt tuần chỉ có cơm chay. Thế mà nấu xong anh đem về tất cả, không chừa lại một muỗng làm duyên cho chị Thảnh nấu ăn ở đây. Buồn cười, chị nhìn theo với đôi mắt mà chỉ có Vân mới hiểu chị nghĩ gì. Và Hào chỉ vui vẻ, xin vài giấy giới thiệu của Thứ, để mua hàng hợp tác xã, dành cho giáo viên bán theo tiêu chuẩn trên huyện. Sau này Vân cũng bắt chước xin giấy giới thiệu, nhưng không bao giờ mua được, vì hàng quá hiếm hoi.
Có một lần Vân cho học trò lao động chuyền đất dưới ruộng lên đắp nền sân trường, nàng lại rất hăng hái và hôm ấy mặc áo đen với quần hoa tím (2), làm các bạn cứ nhìn Vân cười mãi vì thấy ngộ nghĩnh khác mọi ngày. Thế mà buổi chiều ấy Vân lại cho học trò rửa lớp nữa chứ, vì vào đầu mùa mưa đã có nước dùng, ai cũng mừng. Học trò lớp năm khá lớn nên chúng xách từng thùng nước vào dội lớp, nhưng vì thiếu dụng cụ chùi rửa nên trông lớp càng thảm thương hơn.
Ôi chao, chúng trây đất ra, nền chèm nhẹp bùn lại càng dơ thêm nữa. Nhưng rồi cuối cùng chúng cũng rửa lớp được sạch sẽ.
Thấy được quá, chị Thảnh đứng bên kia văn phòng bảo:
– Vân phải rửa luôn phòng học của chị Bẩy.
Cả thầy trò đều đang mệt, mà nghe nói như thế làm Vân phát cáu:
– Em mệt rồi chả làm, lớp ai nấy rửa chứ.
Nhưng khi nhìn lại thì đám nhỏ đã qua lớp chị Bẩy rửa rồi Vân phải làm theo, trong khi những giáo viên khác đứng chơi với chị Thảnh, nghe Vân nói có lẽ bất bình vì binh nhau, nên nhỏ to với nhau. Vân hiểu họ nói về mình, nhưng nàng chả sợ vì mình làm đúng, nên bất cứ ở nơi nào Vân cũng đứng độc lập, không theo bè phái nào cả.
Sau này còn có Duy, Hồng và chị Thái cũng giống như Vân.
Tuần lễ này là tuần sống động, vui vẻ nhất vì ngày thứ hai anh Soài và Thứ lo chuẩn bị lễ tấn phong chức hiệu trưởng cho Thứ. Hai ông bèn dắt nhau đi “dẫy cỏ” (3) trông ngáo như hai ông bắc kỳ Bùi Chu mới vào, làm cả bọn Vân cứ ôm nhau cười thả giàn.
Sáng thứ ba, Lý và chị Thảnh dậy sớm làm con vịt xiêm to mập, anh Soài cũng xúm xít làm phụ, còn Vân sờ sợ chỉ đứng nhìn. Đến chín giờ có cô Ba và một chị làm ở phòng giáo dục huyện đến trường dự lễ. Vân giữ phần trưởng khối lớp bốn và năm, Thứ soạn bài cho nàng đọc buồn cười quá, nhưng nàng phải cố gắng nhịn.
Đến trưa ăn cỗ thật ngon và vui. Đứa nào cũng ăn thật nhiều, rồi tráng miệng bánh bông lan và quả chuối già thật to, của chị Thảnh đem từ nhà chị ở Long An đến. Hôm ấy chị Thảnh rất buồn cười vì cứ đòi ăn hoài và ăn nhiều nhất. Nhưng chị vô tư đến dễ thương, nên không ai chê trách gì cả, Vân nghĩ chị có công nấu nướng cực nhọc thì chị được ưu tiên.
Hôm ấy trường có thêm nam giáo viên mới đến nữa là Linh. Anh ta có làn da trắng tái, điểm thêm vài cái mụn. Linh gầy nên trông cao hơn và đi đứng lom khom, nhưng nhanh nhẹn lắm. Hôm Linh đến lúc cả trường đang ăn tiệc mừng, dù chỉ là cary vịt và một ít bánh trái thôi nhưng lại ngon và vui. Thấy Linh mới đến còn ngờ nghệch, Vân nghịch ngợm bảo:
– Anh có dám ăn cọng sả to này không?
Hắn ngây thơ cười gật đầu. Thấy thế nàng nói tiếp:
– Có dám nuốt luôn không?
Và Vân suýt la lên vì anh ta nuốt luôn thật, làm cả bàn cười nắc nẽ, khiến Linh thẹn đỏ cả mặt.
Nghe nói Linh nhà giàu, gốc Tàu, và ba mẹ có căn biệt thự nằm giữa ruộng trên đường ra chợ Trạm, ai đi qua cũng thích nhìn. Anh là con trai độc nhất chỉ có một bà chị. Theo phong tục người Tàu thì tất cả gia sản ấy sẽ thuộc về anh ta.
Thỉnh thoảng Nhàn ở lại ngủ khi dạy lớp bình dân học vụ nhưng nó không bao giờ đem gạo hay thức ăn theo, làm chị Thảnh phải xin anh Đức một lít gạo về nấu cháo chay. Rồi Nhàn cứ tính toán này nọ mà không bao giờ bỏ tiền mua, khiến Vân bực quá đưa tiền cho nó vừa lòng. Rồi nó chỉ mua đường, bột ngọt và nước tương mà thôi. Thế là cả bọn lại tu tiên.
Cũng như Duy khi quên mang gạo theo vì anh ta ghét chế độ “bao tử” này lắm, nhưng làm chị Thảnh càu nhàu vì nấu ăn chung. Chị hay bắt Duy đi xuống quán mua thức ăn về cho cả bọn dùng cơm. Duy khá hơn Nhàn là không đòi ai bỏ tiền ra cả, tự anh đi mua. Nhưng có một lần anh lại mua một nải chuối sứ, trên đường về không cưỡng được những quả chuối vàng lườm hấp dẫn ngon lành ấy. Sẵn bụng đói anh đã xơi mất hơn nửa nải, chỉ đem về mấy quả chuối le que, ốm yếu tội nghiệp làm Vân phì cười. Hôm ấy lần đầu tiên nàng biết ăn cơm với chuối, để nếm mùi tân khổ này.
Bầu cử
Gần đến ngày kỷ niệm một năm mất miền Nam, là ngày bầu cử 25-4 của chế độ mới. Không khí trong xã thật sôi động. Họ đồn nhau sẽ thống nhất đất nước, nhưng có biết đúng không? Hãy chờ xem.
Tuần lễ ấy các giáo viên lo cổ động bầu cử rất vui. Trường cho xã mượn làm nơi bỏ phiếu, họ cũng tổ chức đàng hoàng ra phết và có làm cả cổng chào nữa. Buổi sáng ấy Vân phải dạy học trò tập hô khẩu hiệu cổ động bầu cử, bọn chúng la to rất ngoan thật dễ thương.
Hôm ấy giáo viên không bị đi dạy bình dân học vụ nữa, vì các học viên sẽ đến trường thi cuối khoá học, nên bọn Vân vui mừng cười giỡn huyên thuyên. Đến chiều các bà lên thi, nhưng vắng mặt chị Bẩy phụ trách vì chị đang ở nhà anh Đức chưa về. Anh Soài và Thứ phải làm thay. Anh Soài giận chị, chiều ấy anh xách xe Honda bỏ về nhà không ở lại nữa. Tối hôm ấy có Nhàn ở lại ngủ cũng vui vì nó nói chuyện nhiều lắm, nhưng Vân không thích lối ăn uống và tư cách của nó.
Sáng thứ bẩy Vân dẫn học trò đi mít-tinh cho bầu cử. Vui tưng bừng. Nàng xinh tươi reo hò cùng lũ trẻ thật hăng hái và mượn con Theo cái nón lá quá cũ, làm ai cũng cười. Điều kỳ lạ là các cha mẹ học trò ở đây ai cũng không muốn bỏ ra món gì cho con mang đến trường cả, vì họ quá nghèo khổ không có đến cái nùi giẻ. Đời sống thật tối tăm.
Đám mít-tinh lúc đi có hàng ngũ thẳng lối, hò la om sòm rất vui vẻ. Nhưng lúc trở về thì như đám ma chiều, mạnh ai nấy đi về nhà, lang thang như gánh xiếc lạc giữa đồng hoang. Buồn cười nhất là mấy đứa lơn lớn nói nhiều câu phản động, nàng biết làm gì đây? Như chuyện ông nội thằng Chánh vào lớp học la om sòm và hăm dọa mấy đứa này, rồi ông ta chụp mũ chúng là C.I.A. phá hoại bầu cử, làm Vân chán nản vô cùng. Cũng nhờ vậy nàng mới biết nhà thằng Chánh là ổ nằm vùng lúc trước, bây giờ ra mặt để thị oai với dân lành, hay là ông muốn hù dọa cô giáo Sài Gòn cũ này?
Vì thế trong lớp có hai phe chia rẽ nhau rõ rệt làm nàng mệt nhoài, mong mau hết niên học này sẽ xin dạy lớp hai cho yên.
Những ngày ấy cả bọn thường bị ăn cơm với nước tương, nên có hôm rủ nhau thức dậy sớm, đi bộ xuống chợ Trạm để mua quà bánh ăn cho đã thèm. Đường đi hơn sáu cây số nhưng đi chung rất vui. Đi bộ xa làm Vân bị sưng chân đau cả đêm. Nhưng hôm sau là ngày lao động ôm đất, nàng cũng phải trèo xuống hào ôm đất cho học trò chuyền lên bờ.
Sau ngày bầu cử, các giáo viên sẽ được nghỉ ngơi, nhưng phòng giáo dục chưa đưa giấy phép về trường, do đó ban giám hiệu không dám cho các giáo viên nghỉ, nàng bất mãn. Sáng hôm ấy anh Hai của chị Tiến ghé trường cho một con cá rất to, do anh bắt được. Chị Thảnh vui mừng đi mua củi và xin nước về nấu cháo cá ăn thật ngon.
Ăn trưa xong, Vân bướng bỉnh cứ cuốn gói về nhà. Nàng rủ Lý và chị Thảnh cùng về nhưng hai người không dám đi, và Vân không thích ban giám hiệu nhút nhát như vậy.
Đám cưới quê
Rồi chị Bẩy và anh Đức cũng làm đám cưới.
Lần đầu tiên Vân được dự đám cưới nhà quê, suốt ba ngày tưng bừng vui vô cùng. Đêm đầu tiên dạy học xong, cả nhóm đến lúc nhà chị đang nhóm họ nhà gái. Họ làm bảng vu quy và che rạp rất đẹp và long trọng, kéo nhiều đèn “manchon” sáng rực cả trong nhà lẫn ngoài vườn. Sân khấu dựng lên có đầy đủ máy móc mướn ở đâu về, có các ca sỹ vườn thay nhau hát vọng cổ rất hay, không thua gì đào kép cải lương.
Chàng Thứ được dịp trổ tài, hát vọng cổ mùi rệu như kép Minh Vương hay Minh Phụng gì đó, thiên hạ vỗ tay rần rần. Tối cả bọn ngủ lại nhà chị. Vân ngủ trong phòng má chị, vì suốt đêm hình như bà không ngủ, chỉ lo điều động bà con nấu bếp tấp nập ồn ào dưới nhà. Bọn Vân cũng khó ngủ yên, vì họ nói chuyện râm ran ồn ào suốt đêm. Má chị có tật nói nhiều,nếu không có ai để nói thì bà cũng nói một mình, Vân ngạc nhiên lắm.
Hôm sau là buổi tiệc chính tưng bừng. Khách trong xóm làng đông nhất và bạn bè, họ hàng. Chả biết nhà bếp làm bao nhiêu gà,vịt và heo vào thời buổi bao cấp ấy nữa. Tối đến đám trẻ đàn hát vui cả đêm. Hát mệt rồi ăn cháo vịt thật nhộn nhịp. Thức ăn lúc nào cũng sẵn sàng, mấy khi được dịp vui chơi ăn uống và ca hát thả giàn như vậy, nhất là thời thiếu đói này!
Nhưng từ ngày còn đi học, trong những buổi hội vui nhộn, luôn luôn Vân cảm thấy có một nỗi buồn, vì hiểu cuộc đời có phải được như thế đâu? Nên đến hôm đưa dâu vào ngày chủ nhật Vân không dự tiệc nhà trai nữa, nàng xin phép về Sài Gòn một mình, trong khi các bạn còn ở lại để hưởng cho hết những ngày vui ấy.
Đám cưới xong rồi biết cô dâu chú rể có hạnh phúc như các đêm này không? Tự dưng Vân cảm thấy khinh cuộc đời tầm thường này vô cùng, và tự nhủ sẽ không bao giờ lập gia đình. Nàng đã kiên quyết giữ vững lập trường này. Nhưng có thắng nổi ông tơ bà nguyệt tinh quái kia không?
(2) cắt tóc.
***
4.- Lớp nghiệp vụ hè đầu tiên ở Cần Giuộc
Vào cuối niên học chị Thảnh nói chắc bọn mình phải chia nhau đi ở trọ nhà dân thôi. Vân hiểu chị nấu ăn chung đã mệt rồi nên nàng đồng ý, chờ xem có nơi nào mời mình về nhà họ thì sẽ đi ngay. Nhưng còn Duy sẽ tìm nhà ai đây? Vì xem ra anh không thể thân mật với ban giám hiệu kiểu như Hào và Linh. Anh chàng bất cần đời này đứng một mình, như ngọn thông kia mặc cho gió đời lồng lộng thổi.
Vân thương chị Thảnh chịu khó lo lắng cho các buổi ăn như người chị hiền đảm đang. Chị đi mót củi, kéo về những bẹ dừa, bẹ cau những khi hết tiền mua củi. Chị cũng lò mò đi hái lá me non và rau nhút, mọc trong các lạch nước ở đâu đó, để có nồi canh chua ngon lành… Nhưng rồi chị vẫn không thoát khỏi cái tính bè phái bất công, của tình cảm con người ngàn đời không đổi ấy. Vì tuy chị nói vậy nhưng sau đó chị và Lý vẫn ở lại trường, ý kiến này do Lý xúi biểu.
Từ từ nàng nhận thấy cái ranh giới này tuy mờ nhạt, nhưng rõ ràng là ở nơi nào cũng có một nhóm người gây thế lực, bè phái để bắt nạt người hiền lành, thế cô. Nhưng tại sao nàng không sợ họ.
Lớp chính trị nghiệp vụ hè đầu tiên
Ba tháng hè bắt đầu, ai cũng thở phào nhẹ nhõm được về nhà nghỉ ngơi. Nhưng phòng Giáo Dục bắt tất cả giáo chức phải học một tháng chính trị nghiệp vụ tại huyện. Nghe tin này như sét đánh ngang tai, vì đám giáo viên Sài Gòn tìm đâu ra chỗ trọ tại huyện suốt một tháng như vậy. Nhưng rồi Vân tạm yên lòng vì có bạn ở chợ Cần Giuộc, may ra sẽ có nơi trọ. Riêng nhỏ Phụng lo lắng nhất, vì nó không quen ai ở gần cả. Nghỉ hè Phụng cũng chả yên, nó cứ thập thò đến nhà Vân bàn mãi chuyện này. Thấy nó lo quá Vân phải trấn an rằng, hy vọng bạn nàng sẽ cho cả hai đứa trọ nơi tiệm nhà Duyên bán thóc gạo ở chợ.
Đến ngày đầu khoá học cả thị trấn thật ồn ào sống động, lúc nào cũng lượn lờ các nam thanh nữ tú đi tìm chỗ trọ, chỗ ăn. Và đúng như Phụng đã lo lắng, khi hai đứa đến nhà ba má Duyên ở gần bến đò, nhưng không gặp nó vì Duyên ở Sài Gòn ít về nhà. Do đó bà chị của Duyên chỉ cho một mình Vân ở trọ thôi, chị sợ hai đứa ra vào sẽ bị trộm cướp để ý. Chị không lấy tiền trọ chi cả. Thất vọng, Phụng buồn muốn khóc, vì thời ấy không dễ tìm nhà trọ như thời sau này. Nó bỗng giận hờn Vân và bỏ đi tìm bạn cùng trường để giải quyết, mà không một lời từ giã. Vân buồn bạn vì tính phụ nữ hay giận hờn vô lý. Từ đó nó không bao giờ gặp Vân nữa.
Nhà trọ của Vân khá rộng và tiện nghi, có nhà tắm, nhưng không sáng sủa nếu không mở hết tất cả cửa chính ra, vì nhà cổ ở phố chợ không có cửa sổ. Trong tiệm chỉ có nhiều bao thóc và cám thôi, vì lúc ấy gạo khan hiếm và cấm chở đi xa. Tiệm thóc gạo này trước kia rất phồn thịnh có gạo thóc chất đầy, khách hàng ra vào nườm nượp, mà nay thật hoang vắng.
Mỗi ngày Tịnh, em gái Duyên, phải đến giữ tiệm sớm để Vân đi học, khỏi phải khoá cửa. Buổi chiều Tịnh về nhà, chỉ khoá cửa hờ bằng vòng dây xích vì phải chờ nàng về.
Ở một mình trong căn nhà rộng rất yên tĩnh vào những buổi chợ tan, nàng cảm thấy thoải mái sung sướng vô cùng, và thầm cám ơn chị của Duyên đã thương giúp mình như vậy. Nhưng chuyện khoá cửa nhà còn lấn cấn, vì chị ấy không có chìa khoá riêng cho Vân giữ, để nàng khoá cửa chắc chắn khi đi và về. Vân ngại trách nhiệm của mình với tiệm thóc này, nên không thấy thoải mái hoàn toàn.
Những ngày học ấy thật khó quên. Khoá học là trường tiểu học Cần Giuộc rất lớn, rộng mát, trên đường lộ chính của huyện. Nhờ có khoá học này mà mỗi ngày ở huyện, sáng chiều đều tấp nập nam thanh nữ tú. Riêng các cô giáo được tha hồ ăn diện, áo quần tha thướt hơn lúc đi dạy. Họ nói cười vui vẻ như ngày hội và nhìn ngắm nhau. Nhưng Vân vẫn cảm thấy như mình lạc lõng nơi không người.
Điều cần thiết nhất là Vân tìm nơi để ăn cơm. May mắn có đứa mách bảo nhà dì Hai ở gần trường đang nấu cơm thuê. Dì khéo đi chợ và nấu ăn ngon, nhà lại sạch sẽ đủ rộng để trải mấy chiếc chiếu cho mấy mươi giáo viên ăn uống ngày hai buổi. Dì có đứa cháu bịnh tê liệt suốt ngày chỉ nằm, không lớn nổi, làm dì bận rộn chăm sóc nó suốt ngày, mà còn lo nấu ăn kiếm lời nữa.
Sau nhà là con sông Cần Giuộc gió thổi vào nhà thật mát, có chiếc cầu dài bắt từ cuối sân trường ra đến gần giữa sông, là bốn cầu tiêu công cộng, loại trống trải mát mẻ ở quê miền Nam thường dùng. Mỗi ngày sau khi ăn cơm, các giáo viên sắp hàng ra đó xả “xúp-bắp” làm quà cho lũ cá tra, cá vồ nuôi đầy dưới ấy. Vân phải làm quen với nó, dù gì vẫn còn hơn phải “đi đồng” chờ lúc trời chiều tối mới dám đi.
Nhà dì Hai có nhà tắm sạch sẽ và kín đáo. Ngày mới đến Vân tắm ở đó, nhưng lại bỏ quên chiếc đồng hồ rất đẹp. Ngay sau đó nàng vào tìm, nó không cánh mà đã bay thật nhanh, làm nàng buồn ngẩn ngơ.
Dạo ấy đang có mode vẽ hoa cảnh trên áo bằng màu của Nhật rất đẹp. Các chị bạn bảo Vân mang áo đến nhà thầy Quỳnh, dạy toán cấp hai trường Thuận Thành, anh vẽ đẹp lắm. Nàng chọn chiếc áo soie hồng xinh nhất đem đến. Anh ở riêng gần đấy, nhà đẹp và thoải mái. Anh ân cần đưa Vân lên lầu xem những tác phẩm của anh đã vẽ cho các cô. Nàng tấm tắc khen nét vẽ, nước sơn và màu sắc không thua gì hoạ sỹ “thứ thiệt.”
Nghe Vân nói thế anh bật cười và hẹn ngày mai đến lấy áo. Rồi chiếc áo hồng ấy đẹp hơn, nhờ những cành hoa hồng anh vẽ nổi bật như hoa thật. Anh không nhận tiền công và còn bảo nàng mang thêm áo đến cho anh vẽ tiếp. Nàng vô tư nhìn anh sung sướng cảm ơn, vì anh rất đứng đắn, nghiêm nghị lại lớn tuổi, nên nàng xem như anh mình. Những lần học chính trị mệt óc Vân không ghi chép kịp, thì đã có các bài của anh cho mượn rồi, vì giáo viên cấp hai học trước bài lớp cấp một.
Một buổi chiều cuối tuần giáo viên Sài Gòn vui mừng đón xe đò về nhà, anh Quỳnh đến hỏi Vân có cho phép anh cùng đi để đến thăm nhà Vân không. Thật khó lòng từ chối, nên Vân đồng ý. Xe đến bến ở Chợ lớn, anh đưa nàng đi ăn vì cả hai đều đói bụng rồi. Về đến nhà, me nàng ra chuyện trò hỏi thăm. Anh xin phép me đưa Vân ra phố chơi.
Lúc ấy thì Vân hiểu anh muốn tiến thêm. Chao ơi! anh không biết nàng có vui thú gì những chuyện hẹn hò yêu đương chứ. Nàng không muốn gây cho anh hy vọng và phải giúp anh hiểu để ngừng lại. Vân bối rối không biết làm sao thối thoát mà làm anh Quỳnh không buồn bây giờ? Nàng đang khổ sở vì không biết cách hoãn binh. May sao, me đi vào nói mấy bộ quần áo đi chơi của con, me đã giặt hôm trước bị con Sáu, con của chú Mười bán gối, ăn cắp hết rồi.
Từ khi đổi đời nhiều người đói khổ quá làm càn, cắp trộm như rươi. Đồ đạc quần áo phơi trong sân nhà, thường bị mấy đứa đi lượm miểng chay, dùng cây có móc câu dài thò qua hàng rào, móc lấy đồ rất dễ dàng. Nhiều nhà bị mất nhưng lại hay quên chuyện này. Nghe me nói mất đồ làm Vân buồn, nhưng lại mừng vì có cớ cho anh biết tâm ý của nàng luôn. Nhờ vậy nàng qua khỏi cửa ải gian nan này. Nhưng nhìn dáng anh cao gầy, tiu nghỉu buồn ra về một mình, khiến Vân chạnh lòng, cảm thấy có trách nhiệm với tấm lòng đôn hậu, trong sáng của anh đã dành cho mình. Từ đó không còn thấy lại anh Quỳnh hiền lành nhìn Vân mỉm cười nữa.
Sau này các chị nói lại Vân mới biết là anh đang học để trở thành mục sư, và đã chọn Vân làm người vợ lý tưởng để cùng giúp anh trên con đường hành đạo. Bây giờ anh đã có người khác rồi, Vân mừng thầm cho anh. Anh sẽ là người chồng tốt, người cha gương mẫu lắm. Thật đáng tiếc, nếu ngày ấy nếu anh cho Vân biết chuyện này, thì nàng sẽ tránh cho anh khỏi buồn vì nàng. Vân không bao giờ muốn làm ai đau khổ, vì bài học vỡ lòng “những gì mình không muốn thì chớ làm cho người.” Nên nàng đối xử với họ thật trong sáng, ngay từ phút đầu.
Đến gần cuối khoá học có màn văn nghệ múa hát của các học viên. Eo ơi! Mục này dân miền Nam không rành như đám miền Bắc mới vào, thì làm sao qua cầu được đây? Chị Bẩy bèn tuyển lựa “vũ công”có dáng múa nhảy của vài trường. Chị tìm được tám cô để dạy múa nón lá và Vân bị vào nhóm ấy. Ngoài giờ học mệt nhọc mà trưa hay chiều về nghỉ ngơi cũng chưa xong, vì phải đi tập văn nghệ nữa. Thế nhưng tuổi trẻ vô tư nên tập tành mãi cũng thành công, dù lúc đầu chả ai thích múa và hát các bài về cách mạng mới mẻ này cả.
Suốt buổi tập đầu tiên Vân ngượng lắm, chỉ muốn bỏ về. Nhưng bị bắt buộc, và bài hát Tây Nguyên “Dưới bóng cây Kơnia” gì đó, đứa nào cũng thuộc lòng dù chả biết cây ấy là cây gì. Và màn vũ không có đồng phục chỉ là quần áo thường nhật thôi, Vân cũng múa dịu dàng đẹp ra phết, các chị khen mãi.
Hôm trình diễn văn nghệ cuối khóa, họ trang điểm cho Vân đẹp lộng lẫy và màn múa rất thành công, ai cũng khen nức nở làm Vân vui vui. Nhìn xuống khán giả nàng thấy chàng Thứ ngồi hàng đầu mắt long lanh nhìn mình, mủm mỉm cười. Khi vãn hát nàng ra hiên đứng với các bạn, có cảm giác ai đó thở rất mạnh sau lưng mình. Vân đoán biết là ai rồi, lòng hơi chao động nhưng nếu quay lại chắc chắn sẽ chạm mặt ngay. Nàng vờ như không biết, bỏ đi về nhà trọ phía chợ. Lòng nàng trong sáng như vầng trăng kia.
Trời đêm hôm ấy có trăng sáng thật đẹp và đèn đường ở khu huyện càng tỏ rạng ngời. Các giáo viên đi từng đoàn cười đùa vô tư, vui như ngày hội lớn. Vân im lặng đi một mình, hưởng thú êm đềm của trời đêm ngoại ô. Gió đêm từ hướng sông Cần Giuộc thổi về thật mát, nàng nghe lòng sảng khoái quên hết mọi chuyện.
Và nàng đã ngủ một giấc dài thật ngon, vì ngày mai sẽ được về nhà nghỉ ngơi rồi, không còn lang thang ở đây nữa.
***
5.- Niên học mới
Năm này mỗi tuần Vân không còn mặc áo dài đến trường và về nhà nữa. Lúc mới đi dạy, nàng vẫn giữ thói quen đó. Thấy hay hay chị Thảnh và Lý cũng bắt chước.
Mỗi tuần dân trong xã hay nhìn ra đường chờ xem ba cô giáo mặc áo dài, lội nắng đứng ngóng xe ở ven lộ cái, để về nhà. Năm này Vân mặc áo quần bình thường như mọi người, để phải “nhập cuộc” vào xã hội mới này.
Chỉ vài tháng sau thì câu hỏi về cô Lý đang chờ mối ai, đã được trả lời rất thỏa đáng: Nàng chờ chàng Linh nhà giàu kia. Vào niên học mới có cặp tình nhân Lý Linh ngồi bên nhau vui vẻ. Thứ giao chức trưởng ban đời sống cho Linh, vì anh ta làm chủ nhiệm lớp năm có uy tín. Bên cạnh có Lý là trưởng ban xã hội và Nhàn là chuyên viên mưu kế rất thâm sâu, để cùng nhau sát cánh tìm lợi nhuận, trong công việc mua bán nhu yếu phẩm cho giáo viên vào thời bao cấp nghèo nàn đen tối ấy.
Vân không trọ ở trường nữa, nhờ dì Bẩy, má của học trò nàng mời về nhà bà ở. Dì bảo nàng chỉ đem gạo mỗi tuần thôi, còn thức ăn bà lo hết. Dì chỉ cần Vân dạy thêm toán ở nhà cho thằng Út của dì.
Nhà dì Bẩy cách trường khoảng hơn hai mươi phút. Nhà cất cao ráo, khá rộng rãi thoáng mát. Chồng dì chết trận, dì phải cực nhọc làm ruộng nuôi bốn đứa con. Hai đứa lớn là thằng Lép và con Thành vừa học xong tiểu học, phải ở nhà phụ mẹ ruộng đồng và lo bắt cá tôm cho cả nhà ăn. Hai đứa đẹp hơn hai em và không giống em. Riêng con Thành vừa mười sáu tuổi dậy thì, có nhiều mộng mơ, chiều chiều nó thường ngồi buồn buồn hát hò lơ ngơ lẩn ngẩn, Vân thấy thương thương. Hai đứa em là thằng Nên tám tuổi rất lanh lợi, và thằng Út sáu tuổi, ngoan hiền.
Dì Bẩy trạc tuổi tứ tuần, dáng người khá cao nếu so với các phụ nữ khác, gương mặt và giọng nói buồn buồn. Dì còn khá đẹp, có lẽ thời con gái dì cũng mặn mà lắm. Trong nhà phòng trước có hai bộ ngựa (ván) bằng gỗ mun đen, sáng bóng mát rượi. Dì dành cho Vân bộ ván ngủ bên trái, còn dì và hai thằng con nhỏ ngủ bên phải. Nhà có đầy đủ tủ thờ cùng bộ bàn ghế tiếp khách. Nhà sau hơi tối là bếp núc, vài ba cái lu to chứa nước uống và bồn dí lúa. Thường Vân thấy nhà nào có bồn lúa cao đầy là nhà khá giả, nhưng thời này không ai dám để cho mọi người thấy biết, họ phải giấu bớt chỗ khác an toàn hơn.
Dì chăm sóc đầy đủ chăn màn cho Vân. Mỗi buổi sáng dì thức trước năm giờ, lo nấu bếp cho mẹ con dì ăn trước ra đồng làm ruộng, và để dành phần cơm lại cho Vân, luôn luôn là một chén cơm nhỏ với một nửa chén canh cá nấu với rau mọc quanh vườn. Dì nấu khá ngon, Vân ăn rất vừa miệng. Tất cả cá, tôm do thằng Lép đánh bắt, Vân gởi tiền chợ dì nhất định không lấy. Còn gạo của Vân đưa dì là của hợp tác xã bán không ngon như gạo Nàng Chá của dì nấu mỗi ngày. Điều này làm Vân áy náy khó nghĩ, hỏi dì, dì bảo “đừng lo, tui đem đi xay ra bột làm bánh được mà!”
Vân cảm động thương dì cô đơn, phải nuôi bốn đứa con nhỏ dại nên người. Chặng đường đời buồn lê thê một mình dì cam chịu, vượt qua không ta thán. Nào ai hiểu bao đêm dài, dì đã khóc thầm vì nặng gánh đời còn thăm thẳm!
Thế nên dì Bẩy rất ít nói cười. Lâu lâu dì hỏi chuyện Vân rồi lo làm việc đồng, việc nhà suốt ngày. Từ khi về đây Vân quá rảnh rang đến nhàm chán, vì không nấu ăn như lúc ở trường và cũng không còn giỡn cười với bạn bè nữa. Tất cả bếp núc đã có dì và con Thành nấu theo cách của họ rồi vì đa phần dân nghèo nấu bếp bằng rơm rạ mót ngoài đồng, nên nàng chỉ dọn dẹp rửa chén bát thôi.
Sau khi ăn cơm chiều xong, Vân mang tất cả bát đĩa ra cầu ao cạnh nhà dì để rửa. Ở đó là nơi vui nhộn nhất của lũ vịt xiêm dì nuôi để dành làm đám giỗ. Thấy có người đến rửa chén, chúng chạy ùa đến tìm thức ăn dư và rượt đuổi giành ăn nhau chí chóe trên ao, làm nước bắn tung toé như lũ trẻ đùa nghịch.
Mỗi chiều tối ăn cơm xong nàng ngồi dạy toán thêm cho thằng Út học. Nó rất ngoan và có tiến bộ rõ ràng. Ở đây nếu Vân biết tu tập thiền thì tốt lắm, vì quá yên tịnh và không bị ai quấy rầy. Nhưng đáng tiếc, ngày ấy nàng nào biết nghĩ xa như thế, vì ba Vân bảo con còn trẻ quá không nên học thiền, vì không có minh sư bên cạnh dạy bảo.
Con ma Da ở ao ông Một
Có một đêm đang ngủ bỗng Vân giật mình thức giấc, vì nghe tiếng chân chạy sầm sập vào nhà và nói chuyện xì xào dưới bếp. Nàng vội chui ra khỏi màn hỏi chuyện, dì Bẩy nói thằng Lép hay đi câu cắm (4) ở ao ông Một, khuya này nó thấy một cục đen to tướng láng lẫy ngồi trên bờ ao, nghe tiếng động cục đen nhảy ùm xuống. Thằng Lép sợ điếng người nhưng cũng cố kéo mấy cái cắm lên để gỡ lấy cá về, thì cục đen này lại trồi lên kéo nó xuống ao luôn. Con ma Da này lạnh, ướt và nhớt nhợt chạm vào người thằng Lép, làm nó sợ hãi cố sức vùng vẫy thoát ra và quăng hết đồ nghề chạy hộc tốc về nhà.
Nghe chuyện xong mọi người đi ngủ lại, nhưng không ai ngủ được cả. Tội nghiệp thằng Lép, đi đặt lờ hay câu cắm bắt cá cho gia đình ăn, mà bị ma nhát hoài chứ không phải là lần đầu. Từ lúc nàng mới đến đây, Vân đã nghe dân chúng kể chuyện ma thời chiến này là có thật. Bây giờ nghe và thấy rõ thằng Lép suýt bị ma bắt như vậy, bỗng nhiên nàng nghĩ: nếu mình hay người thân chết thành ma thì sao?
Từ đó nàng bớt sợ ma. Cái sợ chỉ phát xuất từ tâm ra thôi, nếu thay đổi tư tưởng thì sẽ khống chế được nó.
Từ khi xuống nhà dì Bẩy ở trọ, Vân chỉ đến trường vào giờ dạy, xong rồi lại đi về ngay không còn ăn uống vui đùa với các bạn như lúc trước nữa. Anh Soài xong nhiệm vụ cũng chuyển đi nơi khác. Nàng cũng không gặp lại Duy, chả biết anh chàng ở trọ nhà ai, vì trường chỉ còn Lý và chị Thảnh ở đó. Nhưng bây giờ Lý đã có Linh, có lẽ đã bớt phần thân ái với chị rồi, nên chị sẽ xin đổi về tỉnh Long An gần nhà chị tiện hơn.
Từ sau hôm học chính trị hè có lẽ Thứ đã thất vọng, nên chàng không còn nói chuyện thân mật với Vân nữa, ngoài những công việc ở trường, anh ta vẫn lịch sự, vui vẻ, nhưng nào ai biết được trong lòng chàng buồn thế nào? Thế nên có lần nhỏ Hồng tinh nghịch dám rủ rê chàng lên Sài Gòn đi chơi với nó. Vân nghe Hồng cười khúc khích rằng, em thấy anh Thứ đẹp trai mà nhút nhát quá nên rủ anh ấy đi Sài Gòn với em. Cô nhỏ táo bạo thật. Và từ đó anh chàng không bao giờ đi nữa.
Vân đã thấy đời đổi thay tận cùng nỗi khổ như xã hội bấy giờ, nàng không còn hy vọng đẹp đẽ vào tương lai lứa đôi nữa, dù là với người yêu cũ. Nàng không còn những nỗi xôn xao của tình cảm yêu đương tuổi trẻ. Vừa qua thời chinh chiến, nàng phải bước đi, một bước thật dài xuống cuộc đời tang thương này. Dù rằng môi trường sống của Vân hãy còn quá tốt đối với hoàn cảnh chung của nhiều người khác. Dù rằng nàng chỉ mới biết chút ít về thế giới nhỏ bé quanh mình thôi, mà Vân đã não nề rồi.
Có phải cái lý tưởng về cuộc đời đã khiến nàng thất vọng?
Tất cả vui thú của cuộc đời đã chìm sâu. Nàng chỉ sống cho lý tưởng mà mình đã lựa chọn như đã nói với anh Soài hôm nào.
Tiền cho thư viện đi về đâu?
Trường chỉ có bốn phòng học phải chia ra hai ca. Những đứa phải học ca chiều bị cực nhọc hơn buổi sáng, vì buổi trưa nắng nóng như đổ lửa mà chúng chỉ có đầu đội trời chân đạp đất, bóng nhỏ lặn lội đi xa ngút ngàn mới đến trường học. Lớp học dù có thoáng mấy cũng ngột ngạt với hơn năm mươi cái đầu chen chúc nhau như vậy, lâu dần rồi Vân cũng quen.
Để tổ chức củng cố về hành chánh, Lý muốn lập thư viện. Trường nghèo và bé tí teo như thế làm thư viện là xa xỉ, vì học sinh chưa có trình độ để đọc sách. Ấy là chưa nói đến tiền mua sách cho thư viện. Thế mà ban giám hiệu lại đồng ý, nghĩa là vây cánh của họ vững chắc lắm.
Các giáo viên mỗi tuần phải kêu gọi học sinh đóng tiền thư viện là cả một vấn đề cam go, nhất là với Vân. Những lần ấy nàng không thể cầm những đồng tiền của các cha mẹ nghèo, ăn chưa đủ no ấy để nộp cho Lý. Nhưng nàng cũng phải làm mà thấy xót thương những đứa trẻ ngây thơ của mình, cứ thỉnh thoảng đóng tiền mà không hề thắc mắc gì cả. Nên vài tháng sau nàng chấm dứt không hỏi tiền học sinh đóng cho thư viện nữa. Lý cũng im không thắc mắc hỏi nàng gì cả. Và mãi đến hai năm sau Vân cũng chưa thấy thư viện của trường, mà chỉ có một tủ sách nhỏ cũ kỹ lèo tèo vài chục cuốn sách mỏng manh, mà học trò chả đọc đến. Có lẽ nhu cầu không cần thiết? Tiền học sinh đã đóng kia về đâu?
Tất cả giáo viên đều phải một ngày tham dự giờ các đồng nghiệp của lớp bình dân học vụ tại huyện Cần Giờ. Đây là chiến dịch lần đầu tiên vào ban ngày. Bọn Vân tập họp tại một trường rất xa huyện vài chục km. Địa điểm tập họp là trường khá rộng lớn khang trang, có đủ tiêu chuẩn tiện nghi cho giáo viên ở lại suốt ngày, để đi dự giờ ở các lớp của các trường quanh đấy. Hôm ấy đa số các cô giáo không có phương tiện di chuyển, nên các nam giáo viên tình nguyện chở giúp. Các chàng ngầm chọn người mình muốn đi cùng, nên rất vui và hào hứng.
Vân đi cùng Lộc “thư sinh.” Anh chàng đèo nàng chạy phom phom qua bao cánh đồng và đường phố. Các bạn nối đuôi nhau nói cười đùa như đám rước lễ hội. Buổi trưa ăn ở trường thật vui. Đến xế chiều xong nhiệm vụ, anh Soài mời bọn Vân đến nhà ba má anh chơi. Lần đầu tiên biết nhà anh, căn nhà rộng lớn mái ngói âm dương, ba gian hai chái rất thoáng mát. Nhưng mọi người thân của anh đều đi vắng, để đám bạn trẻ này tha hồ leo trèo hái xoài, ổi ngoài vườn và đùa nghịch như trẻ con. Lúc về đứa nào cũng sung sướng được ôm một đống quà ấy về.
Riêng anh bạn Lộc mới quen, có công đèo nàng đi suốt ngày cực nhọc ấy, thì tuần sau anh xuất hiện ở trường nàng. Vân ngạc nhiên và im lặng chả nói gì, nên Lộc lúng túng ra về. Rồi gió cuốn đi…
Đứa học trò khó quên: Con Thỉ
Nhà dì Bẩy cách nhà con Thỉ mấy ô ruộng, mỗi ngày vào buổi trưa hay chiều ăn cơm xong là nó chạy u qua nhà dì Bẩy để nhìn lén cô giáo của nó. Nó mắc cở cứ lấp ló, nấp sau cột nhà dì, hay đứng ngoài hiên. Có khi nó nấp sau mấy góc cây dừa cạnh ao, tuốt ngoài vườn. Nó cứ đứng rất lâu nhìn vào nhà tìm Vân. Thỉ có bịnh khờ khờ không bình thường như những đứa khác. Thân hình nó gầy gò, tóc khô cứng rối nùi và cháy nắng thành màu vàng đỏ trộn nhau. Người nó lúc nào cũng hôi mùi sình của ruộng đồng và quần áo dơ bẩn, tội lắm. Nó hay đi lang thang suốt ngày ngoài nắng không mệt, khi thấy Vân nó cười sung sướng, đưa hàm răng vàng ố không đều, thật ngây thơ.
Thỉ thương cô giáo lắm, có lần dám ăn cắp quả trứng gà đem cho Vân, nói là của má nó tặng cô. Nàng không tin nên cầm quả trứng đến nhà hỏi cho rõ. Má nó còn trẻ, mà vì lam lũ nên già đi trước tuổi. Chị kêu lên:
– Mèn ơi! hồi sáng tui đi kiếm cái hột gà này quá trời, mà không biết con quỷ này ăn cắp.
Rồi chị cốc lên cái đầu chôm bôm của Thỉ rõ đau, nhưng nó không khóc mà chỉ xoa xoa đầu, rồi nhăn răng cười ngây dại. Bà mẹ mắng chửi con thật vô tư, không biết rằng con mình sẽ buồn. Vân ngậm ngùi thương con Thỉ vô cùng, nàng dạy nó là từ nay không được lấy của nhà như vậy nữa.
Bây giờ nhớ lại Vân cay mắt muốn khóc, không biết Thỉ có còn sống và ra sao?
Đi gặt lúa
Vào mùa gặt lúa mẹ con dì Bẩy rất cực nhọc, đi sớm về tối. Vân xin theo phụ giúp một buổi, dì vui vẻ bằng lòng. Sáng hôm ấy cũng theo lệ thường, dì thức từ năm giờ nấu nồi cơm và canh cho cả nhà ăn no rồi đi làm ruộng. Hôm ấy nàng cũng thức sớm và ăn cơm chung một lúc, rất ấm cúng. Ra đến đồng sình ngập nước xì xụp đến mắt cá, mọi người đều vo ống quần lên đến đùi để đi. Dì đưa Vân lưỡi hái ngắn cong nói cô nhìn theo tui mà làm nghe.
Tất cả bốn mẹ con dì đều cúi xuống cắt lúa rất dễ dàng, còn Vân lọng cọng nắm một bó lúa mà cắt hoài không đứt đến phát mệt. Dì quay lại chỉ nàng cách đưa lưỡi hái như thế nào. Rồi nàng làm cũng được nhưng chậm hơn họ vô cùng. Chỉ hơn hai giờ sau nàng cảm thấy mệt vì không quen cúi xuống ngửng lên hoài rất mỏi và lưỡi hái làm tay nàng bị bỏng đỏ rần. Thấy vậy dì bảo thằng Út đưa nàng về nhà nghỉ, vì chiều ấy hai thầy trò còn đến trường nữa, còn mẹ con dì ở lại làm cho xong.
Đó là lần đầu cũng là lần cuối Vân đi làm ruộng với dân, mới biết hạt gạo khó nhọc và quý như hạt ngọc mà nhà nông ngày xưa ví von. Ôi! cái nắng nóng hầm hập nơi ruộng sình lầy ẩm ướt, chân tay làm quần quật cả ngày, một bát mồ hôi đổi thìa cơm trắng. Nhưng khi đến kỳ thu hoạch lại bị nhà nước bắt phải bán giá rẻ mạt cho hợp tác xã, còn gì cho dân sống? Nhà nào cũng thiếu thóc gạo ăn, nói gì đến những nhà không có nhiều ruộng để đủ đóng thuế này, chỉ còn đi chạy nợ đến đói khổ mà thôi.
Như nhà bà Hai cạnh nhà dì Bẩy nghèo ghê lắm, bà chỉ có thằng con trai bịnh khờ khờ, mà cũng có vợ con. Chúng đi làm thuê cả ngày để đứa cháu gái nhỏ khá bụ bẫm cho bà giữ. Bà để cháu lem luốc, chỉ mặc áo không quần (cho dễ tè) và bé bò lê lết ra sân bốc đất cát ăn hoài. Vân bảo bà đừng để cháu ăn bậy, vì nếu gặp con trùng hay con cuốn chiếu thì sẽ bị lở miệng. Bà ờ ờ rồi cũng để nó như cũ.
Đời sống như vậy rồi, khó mà thay đổi tốt, nếu không suy nghĩ thêm nữa.
Như bọn học trò lớp năm sắp lên trung học, nàng hỏi các em thích sau này sẽ làm nghề gì? Chúng đồng thanh nói chỉ làm ruộng giúp ba má thôi, không muốn làm gì khác nữa cả. Vân thở dài, cha làm sãi chùa thì con quét lá đa ư?
Trước ngày nghỉ hè, cả trường tổ chức nấu chè cho học sinh ăn chơi rồi chia tay ba tháng dài. Lớp Vân học sinh còn nhỏ chúng quyên góp được ít tiền, cho cô giáo đi chợ. Ngày ấy Vân nghĩ mãi làm sao có đủ tiền cho nồi chè với lớp quá đông này. Thôi thì thay vì mua khoai môn, nàng mua hột mít về nấu với nếp, đường thẻ và nước dừa khô vậy. Thế là nàng đi chợ.
Về trường, nàng phải nạo dừa, nhóm bếp và luộc hột mít. Còn đám nhóc thì bu quanh chờ cô sai biểu thật nhộn nhịp. Các lớp khác cũng nấu nấu nướng nướng ồn ào vui vẻ như thế. Bếp chỉ là ba cục gạch rồi đi mót củi về nấu trên sân trường khá rộng, đầy cỏ dại và xình xập làm bếp khó bắt lửa, khói bay mù mịt, nhưng ai cũng vui cả.
Nhờ có buổi ăn này mà có kỷ niệm đẹp, càng làm nàng thương yêu đám trẻ nghèo ngây thơ. Ở đây quê mùa, chỉ một nồi chè hột mít thôi mà là cả niềm vui cho lũ nhóc, khiến mắt nàng long lanh. Vì khói bếp hay vì cảm động?
Vân nhớ chỉ một năm trước thôi, nàng dự lễ tất niên ở trường với các bạn đồng nghiệp, thức ăn ngon tràn đầy,mà nào ai biết quý nó. Nàng nào biết tất cả bỗng đổi thay, bỗng mất hết.
***
6.- Chuyện ở trọ
Đến hè năm sau nhà Duyên từ chối không muốn Vân ở trọ nữa, họ sợ bị trộm cắp vì không khoá cửa chắc chắn khi có Vân ở đó. Nhất là Duyên đi rồi, nên Vân đành đi tìm nơi khác.
Cũng may là Vân có đứa bạn cũ, nó đưa Vân đến giới thiệu với chú thiếm của nó là chủ tiệm may Lê Đức ở chợ, xin ngủ tạm. Nhờ nó mà chú thiếm Năm rất vui vẻ mời Vân ở lại, dù tiệm may của họ không rộng rãi nhưng khá sang trọng.
Đó là tiệm may cắt quần áo đẹp nổi tiếng ở đây. Chú cắt may rất khéo và thiếm lo phần đơm nút làm khuy. Thiếm Năm tuổi trung tuần còn khá đẹp, gương mặt lúc nào cũng tươi tắn và có tướng sang. Cả chú thiếm đều khéo léo vui vẻ chào hỏi mọi người, nên thời chính quyền nào tiệm cũng đông khách, nhất là thuận lợi địa thế ở chợ và gần căn cứ quân đội của huyện.
Chú thiếm có ba cô con gái rất xinh là chị hai Chi có chồng là sĩ quan cũ, đang đi tù “học tập cải tạo,” chị và đứa con trai nhỏ về ăn nhờ ba má. Còn lại là hai cô Hân và Hương đang tuổi mười lăm, mười sáu còn đi học, nhưng chú đã muốn kén rể trước rồi. Đó là các cán bộ đang thời hưng thịnh này, họ làm việc ở huyện thường đến tiệm may và đã để mắt đến hai cô tiểu thư. Tất cả đều ở chung trong căn tiệm tuy nhỏ nhưng sáng sủa và sạch sẽ, lúc nào cũng tràn đầy tiếng cười nói vui vẻ.
Thật cảm động với tình thân thương của gia đình ấy dành cho Vân, vì nhà tuy chật chội nhưng thiếm bày biện rất khéo léo, gọn gàng. Tối hôm ấy Vân ngủ ở đi-văng chung với thiếm và Hương, chỉ một tuần đầu thôi. Thấy bất tiện Vân định đi tìm chỗ khác, thì chú thiếm giữ lại, bảo sẽ đưa nàng đến trọ nhà bà ngoại là má của thiếm, đang ở một mình cách đó mươi phút đi bộ, phía bến đò.
Mùa hè này trên thành phố nhiều nhà bắt đầu kinh tế cạn kiệt, đã phải ăn cơm độn khoai nhiều lắm, nhà Vân cũng không tránh khỏi. Đã khó khăn như vậy mà một năm nay, me nàng còn thương hại cho một chị lạ hoắc đang có bầu, cho vào nhà ở chung và lo cơm nước giúp đỡ, vì chị bị vợ lớn bắt ghen không ở nhà chị được. Thương người thì mình phải hy sinh. Vân không đóng tiền và gạo cho dì Hai mỗi tuần hai buổi cơm nữa, nàng chỉ ăn mỗi ngày một buổi thôi, vì số gạo và tiền còn lại nàng muốn giúp cho me bớt lo buồn chuyện chạy ăn mỗi ngày quá cực nhọc.
Tuần đầu tiên Vân chỉ ăn buổi trưa còn chiều nàng mua khoai, bắp ăn đỡ đói rồi đi ngủ. Có một buổi chiều học xong, các bạn nàng vui vẻ đi ăn cơm ở nhà dì Hai, còn Vân lủi thủi đi quanh phố chợ tìm mua món ăn tạm, nhưng chợ chiều tan hết rồi không còn ai bán hàng, nàng đành nhịn đói. Khi về nhà chú Sáu lúc họ đang dùng cơm, Vân ngồi trước cửa tiệm một mình, nhìn ra đường vắng mà lòng thật buồn vì bụng đói cồn cào. Bất ngờ thằng bé con chị Chi từ trong nhà đi ra, tay cầm chén cơm gạo trắng ngần thật ngon lành, phía trên là một cục thịt kho vàng ươm, nhìn đến thèm. Thằng bé ngồi ăn cạnh nàng. Đó là lần đầu tiên nàng mới biết cái đói và cái thèm ăn nó đã hành hạ mình đến thế nào, thì nói gì đến những sỹ quan cộng hoà bị CS bỏ tù.
Nàng chỉ ngồi im, không nhìn chén cơm của thằng bé nữa.
Sau đó mẹ bé cũng ra ngồi cạnh Vân, chị nhớ thương chồng đang bị lao tù đến giờ chưa thấy mặt, chị buồn rơm rớm nước mắt. Nhưng Vân hiểu rằng cái khổ xa chồng vì thương nhớ và lo âu, nhưng chị lại còn có cái khổ khác, là phải về nhà ba mẹ ăn nhờ trong thời đói khó này, làm chị thêm buồn thắt ruột. Thế nên Vân thấy mình sung sướng hơn chị nhiều, vì nàng tự lo được cho thân mình và không bị chồng con vướng bận. Nàng lại vui ngay và an ủi chị nuôi hy vọng, chờ ngày anh ấy trở về với vợ con. Mãi đến mấy mươi năm sau, hình ảnh chén cơm thịt kho ấy đôi khi trở về, làm nàng buồn buồn.
Đến tuần sau nàng thay đổi, là chỉ ăn cơm chiều vì buổi trưa còn nhóm chợ dễ mua món ăn hơn. Ôi, những ngày này dài lê thê, có ai bắt Vân nhịn ăn như vậy đâu? Nàng đã tình nguyện và âm thầm chịu đựng cái đói khát như những người đã bị đuổi đi vùng kinh tế mới, như bao nhiêu người trên đất nước lầm than khốn khó này. Nàng vẫn thản nhiên vì chung quanh nàng nào có ai là người đồng cảm? Mọi người ồn ào, cười nói nhưng với nàng chỉ là vắng không.
Nhờ lòng tốt của chú thiếm Năm nên Vân được ở trọ nhà bà ngoại cho đến hết khoá học. Nhà bà mới cất vài năm thôi, thật rộng và toàn bằng gỗ tốt rất đẹp và chắc chắn. Căn nhà gỗ màu nâu có cổng rào, sân vườn trước trồng hoa và sau nhà có vườn cây trái. Bên hông nhà là lạch nước chảy đến sau vườn, có chiếc cầu ván bắt ra đó cho bà rửa ráy mọi thứ. Đặc biệt là có cả nhà vệ sinh sạch sẽ mà từ khi về đây Vân chưa bao giờ thấy cả.
Bước vào nhà bà, Vân ngạc nhiên vì không nghĩ một cụ già trên bẩy mươi tuổi mà còn khoẻ mạnh, tự lo một mình như vậy được. Bà ốm yếu lưng còng, miệng chỉ còn vài cái răng móm mém ăn trầu, nhưng đôi mắt còn rất tinh anh. Bà không vui vẻ như thiếm Năm, con gái bà. Có lẽ bà bị khó tánh của người già, nên Vân chưa thấy bà cười bao giờ. Nhưng bà ân cần tiếp đón nàng như người nhà, làm nàng thầm sung sướng cảm ơn.
Trong nhà các phòng ngủ tuy hơi tối, nhưng phòng khách và nhà sau đều sáng sủa, thích vô cùng. Phòng khách có bộ salon gỗ chạm trổ thật đẹp, tủ thờ ông bà cũng chạm trổ tinh vi. Vân nghĩ thầm có lẽ chú thiếm cất nhà này để sau này khi bà mất, sẽ cho hai con gái của chú thiếm làm của hồi môn với các “rể quý” kia chăng? Và đúng như thế.
Vân được ngủ một mình trong phòng, có bộ ván gỗ mun dầy đen mát lạnh như ở nhà dì Bẩy. Mỗi buổi chiều sau khi tan học và ăn cơm xong, nàng về nhà bà, quanh quẩn bên bà nghe kể chuyện đời xưa lúc bà còn trẻ. Bà vừa làm cơm vừa kể chuyện rất có duyên, trí nhớ bà còn rất minh mẫn, khiến Vân sung sướng tưởng như mình có bà ngoại hay bà nội, mà suốt thời thơ ấu nàng thầm ao ước. Có hôm nghe bà vừa ăn cơm vừa kể chuyện đời con gái khổ đau của bà, trong thời bị thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam, khiến nàng thương bà, muốn ôm bà khóc theo chuyện.
Các xóm này nhiều nhà còn khá giả, chưa thấy nghèo túng như dân ở các xã ấp xa của nơi Vân dạy. Có lẽ nhờ vào con sông Soài Rạp rất lớn và gần chợ, nên đời sống còn phồn thịnh.
Đêm đầu ngủ nhà lạ Vân cũng lại hơi sợ ma vì phòng rộng và âm u quá, nhưng dần rồi quen. Nàng thích ở đây, thật mát mẻ và êm đềm.
Cuối khoá học, bà ngoại hứa cho Vân sang năm đến trọ hè tiếp tục nữa, khiến nàng mừng cảm ơn bà vô cùng.
Khi Vân đến từ giã chú thiếm Năm, họ ân cần hỏi thăm về chuyện tình cảm của nàng và khuyên nên chọn các cán bộ CS mới này để có tương lai hơn là các sỹ quan cũ kia, đang bị tù cải tạo đã hết thời lỡ vận, như chú thiếm đã làm cho hai cô con gái của mình. Vân hiểu ra tại sao chị Chi ở nhà ba má ruột của mình, mà lại buồn rầu như vậy. Thời trước chị đã lấy chồng sỹ quan của đồn lính Cộng Hoà bên huyện này, có lẽ cũng do chú thiếm mối lái. Giờ hết thời chị bị cha mẹ xem nhẹ chăng?
Chú bảo sẽ giới thiệu ông cán bộ bên huyện cho nàng. Vân cám ơn lòng tốt của chú và từ chối, bảo rằng người yêu sắp về rồi, để chú hết ca bài “con cá” ấy nữa. Nhưng Vân hiểu tâm lý con người như chú thiếm nên không giận hay ghét khinh. Mỗi người chọn một lối sống theo bản năng, thì tại sao mình bắt họ giống mình?
Cũng như vợ chồng chú Dật, là chú chồng của bà chị Vân. Ông anh rể đi học tập cải tạo, ở nhà chị vẫn làm công chức nuôi con, vừa chạy tìm bà con “bên kia” để chạy chọt kéo chồng về sớm. Chị đã tìm ra chú Dật này. Mỗi lần đến nhà họ chơi, chị hay bắt Vân theo. Ông này người Huế tập kết ra Bắc, năm 75 vào Nam ở Đa Kao, đem theo bà vợ Bắc cũng cán bộ. Họ rất lịch sự, dễ thương nhưng gặp Vân vài lần, mà ông cũng đã khuyên nàng giống như chú Năm này, và lăm le giới thiệu người nữa chứ.
Họ có lợi gì mà khuyên nhủ nàng như vậy? hay thật sự họ thương mến nàng mà dạy khôn?
Trong khi gia đình và bà con Vân ở Hội An vào thăm, cũng đều khuyên nàng ngược lại là đừng lấy chồng hãy chờ người yêu về, vì ở trong tù đã khổ mà nghe tin người yêu bỏ rơi đi lấy chồng, thì còn gì đau khổ hơn nữa, có người tự tử luôn.
Vân không cần ai khuyên gì cả, vì nàng biết rõ con đường mình đi rồi, nên dù ai nói đúng hay sai nàng chỉ cám ơn lòng tốt của họ thôi.
Ôi, cuộc đời đổi trắng thay đen chỉ vì món lợi danh. Nàng chua chát buồn, thấy mình thật cô đơn, đứng bên lề cuộc đời này và từ bao giờ mình đã miễn nhiễm về cái quyến rũ của hào quang ấy.
Cuối hè năm ấy người yêu Vân trở về, chàng vẫn khoẻ mạnh như xưa và phải làm quen cái xã hội đổi thay điêu tàn này, để vươn lên mà sống.
Đầu niên học mới Vân vẫn dạy và ở trọ nhà dì Bẩy như cũ. Nhưng được vài tháng thì dì báo tin sẽ làm đám cưới cho thằng Lép. Vân ngạc nhiên vì nó chưa đến hai mươi tuổi. Dì bảo nó cứ hẹn hò với con gái người ta hoài nên dì phải cưới cho yên, sợ có ngày nó làm con kia có bầu thì dì còn khổ hơn. Vân hỏi:
– Làm sao dì có đủ tiền mà cưới dâu đây?
Dì chép miệng buồn rầu một lúc rồi nói :
– Tui bán lúa bớt, cùng lắm thì bán lúa giống luôn.
Vân kêu lên :
– Đừng bán, lấy gì sạ (5) cho sang năm??
Vân biết đám cưới ở quê dù nghèo cũng phải đãi ăn cả xóm, giàu thì đãi nhiều hơn, rất tốn kém. Dì nhìn ra ngoài sân mà đôi mắt muốn khóc. Dì nói ai cũng nghèo làm sao tui mượn tiền họ được. Làm sao Vân có tiền để giúp dì Bẩy đây? Chính nàng cũng muốn khóc theo thôi.
Từ đó nàng im lặng tìm chỗ trọ khác, để chỗ ngủ cho vợ chồng thằng Lép, dù dì Bẩy nói cứ ở lại, dì chỉ làm một cái chái che kín đáo ở nhà sau cho hai đứa nó là đủ.
Đến ngày cưới dâu của dì Bẩy, Vân đã có chỗ trọ mới rồi. Dạy xong chiều đó Vân xuống nhà dì tặng bao thư tiền cho thằng Lép và dự tiệc cưới cho dì vui. Vì nhà có tiệc, dì bảo nàng ở lại ngủ trong cái hóc bé tí ở nhà sau, được che bằng mấy cái phên tre. Đêm ấy Vân nằm nghe giọng nói chuyện của dì Bẩy với mọi người, giọng dì thật buồn như cuộc đời, làm nàng cảm thương nghĩ: “Rồi sau ngày cưới này, dì sẽ chạy đâu ra tiền mà trả nợ?”
Suốt đêm ấy nàng cũng không ngủ được, vì bà con lối xóm bu lại làm bếp ồn ào… Cũng nói chuyện suốt đêm đến sáng như lần đám cưới ở nhà chị Bẩy. Nhưng đám cưới thằng Lép nhà nghèo không che rạp, chỉ đốt một cây đèn “manchon” cho sáng nhà bếp để làm cỗ thôi. Cũng không có hát hò cả đêm, không có tiếng cười vui ròn rã, thoải mái và ăn đêm thả giàn như đám cưới của chị Bẩy được. Thế nhưng dì cũng đãi ăn hai ngày, đông đúc hàng xóm, bà con đến chung vui.
Tại sao con người vì cái sĩ diện mà phải chịu khổ cực như vậy?
Nhà trọ mới
Vân may mắn được dì Sáu ở sau chùa gần trường, mời về nhà dì trọ. Nàng không phải lo gì cả chỉ đem gạo theo thôi, như lúc ở nhà dì Bẩy. Dì Sáu có tâm đạo cao nên không lập gia đình. Dì có cái thanh thoát, dù buôn bán cực nhọc nhưng vẫn như an nhàn. Có lẽ một phần cũng nhờ có cô cháu gái Sáu giỏi giắn theo giúp dì.
Vân quen em Sáu lúc nàng và các bạn đi chùa cúng sáng vài lần. Sáu cũng tu theo gia đình, gương mặt em tròn tươi sáng, tánh tình thật thà chất phác, lúc nào cũng tươi cười thật vô tư, nên Sáu và Vân thích nhau lắm. Nghe Vân tìm chỗ trọ, em bèn về nói với dì Sáu của nó, thế là dì đồng ý mời Vân đến ở.
Dì Sáu ở một mình với ba đứa cháu, là Sáu và hai đứa bé con dì Tám ở Sài Gòn gởi về đây, đi học bên trường. Nhà dì rộng rãi khang trang mái ngói, vách tường xây cất vững chắc. Nhà trước là phòng thờ tự, nhưng chả thấy dì lễ bái cúng lạy như các tín đồ khác. Đó là cái hay của dì Sáu biết đạo không phải là hình thức, giống như ý Vân đã nghĩ. Vì thế dù không bao giờ dì nói về đạo với nàng, nhưng hình như cái tâm ấy hai người đã hiểu nhau, như đồng thanh tương ứng rồi vậy.
Nhà dì có thêm một căn nhà gỗ nhỏ mới cất, bên cạnh căn nhà chính, thật lý tưởng, vì nằm dưới tàng cây me già trong sân rộng. Những buổi trưa nóng bức, đi dạy về Vân nằm gát chân lên song cửa sổ, gió thổi lồng lộng như đi nghỉ hè bãi biển, thích vô cùng. Nàng và em Sáu nói chuyện một lúc rồi nàng ngủ quên không hay.
Nhà làm đậu hũ buôn bán nên ai cũng bận rộn suốt ngày. Buổi tối Sáu ngâm đậu nành. Hôm sau ăn trưa xong hai chị em xay đậu trước. Vân giữ việc dễ nhất là cho đậu từ từ vào cối để Sáu xay nhuyễn thành bột. Sáu là con gái đồng lại ở tuổi bẻ gãy sừng trâu, em khoẻ vô cùng. Cái cối đá xanh nặng nghìn cân mà nó xay một hơi cả chục kí đậu không mệt, Vân có thử xay mà đành chào thua. Khi xay xong thì cho vào một nồi to, nấu ngoài sân. Khi nấu xong chờ nguội bớt, thì hoà thạch cao vào để đổ vào khuôn gỗ có lót vải, và dằn cho sát lại từng khuôn, nhìn thật ngon.
Sáu thường mời Vân uống sữa đậu nành khi nấu xong. Ly sữa thơm lừng vì em thả vào vài cọng lá dứa và một muỗng đường cát cho ngon. Có hôm Vân hỏi đùa: “Sao em ‘cưng’ chị như vậy?” Sáu cười, nụ cười mộc mạc, cũng như khi thấy lại Vân sau kỳ nghỉ hè dài, em chạy lại ôm nàng mừng rỡ như gặp lại người thân trong nhà. Duyên lành này là từ bao đời trước nên đời này Vân và gia đình dì Sáu gặp lại nhau. Ba má của Sáu là dì dượng Bẩy nhà cạnh đó cũng thân thương Vân lắm. Nhờ vậy thời gian ở đây nàng rất sung sướng, tâm hồn thật thanh tịnh, xa hẳn bụi bậm Sài Gòn buồn nhiều hơn vui.
Mỗi khi dì Sáu ở nhà không phải đi mua bán, thì dì làm bếp thật ngon cho cả nhà ăn. Hôm nào dì đi bỏ hàng về muộn thì Sáu và Vân làm bếp trước chờ dì về. Cả nhà ăn chay nhưng đầy đủ chất bổ vì luôn có đậu hũ tươi mới của dì trên mâm cơm.
Dì và em Sáu thật tốt, tâm hồn họ trong sáng và thương Vân như người nhà, làm nàng cảm động vô cùng. Cả ngày trong nhà luôn có tiếng nói cười vui vẻ, làm sao Vân quên được những buổi cơm chiều thật ấm cúng.
Những buổi chiều lúc trời chạng vạng tối, mâm cơm vừa nấu xong dọn ra trên cái chỏng gỗ thấp để ngoài sân sau và cả nhà quây quần ngồi ăn vui vẻ. Vừa ăn dì vừa ân cần hỏi thăm từng người nhất là hai đứa bé, chúng tranh nhau nói và cười đùa thật vui nhộn, êm đềm. Có những hôm Vân nhìn thằng Năm đi khập khễnh với hai nạng gỗ mà thương, vì hai chân bị teo tóp sau cơn sốt tê liệt lúc còn bé. Nhưng nó rất vui vẻ không mặc cảm, luôn đùa nghịch với con Bẩy em nó. Hai đứa trẻ thật ngoan.
Suốt thời gian dạy ở đấy Vân chỉ ăn chay. Lúc trọ ở trường vì thiếu tiền, thiếu ăn nên phải ăn chay. Còn ở trọ nhà dì Sáu vì thật là tâm dì tu nên ăn chay cho thanh tịnh. Ôi chao! Mỗi ngày là một buổi picnic được ăn ngoài trời thật sung sướng. Cái thoáng mát của khí trời trong lành ở đồng quê và tình thân thương của cả nhà, làm ai cũng ăn ngon dù chỉ là tương chao, đậu hũ và rau cải thôi, vậy mà Vân không hề thèm các món thịt cá nào cả như lúc ở trọ nơi trường.
Ở đây Vân không lo vấn đề thiếu nước dùng, vì nhà dì có nhiều lu chứa nước mưa và có cả cái giếng sâu nữa. Nhà vệ sinh và nhà tắm cũng có đầy đủ.
Thỉnh thoảng vào dịp tết hay đám giỗ, dì Sáu đều làm bánh ít, bánh tét thật ngon và nhiều để tặng bà con, và dì đều để dành quà cho Vân. Bấy giờ không có tủ lạnh, dì giữ các thứ bánh ở giữa lưng chừng cái giếng cho mát, để chờ Vân đến. Ôi, những món quà quê tình nghĩa ấy làm ấm lòng nàng mãi đến giờ, không quên.
Đi bán đậu hũ
Có một lần Vân cũng đi theo em Sáu ra chợ Trạm bán đậu hũ. Buổi sáng hôm ấy nàng cũng thức dậy thật sớm, Sáu đi trước gánh đậu nặng trĩu đôi vai làm Vân thương thương, vì nàng cũng ghé vai gánh thử mà không nổi lại bị đau ê cả vai.Thế mới biết một miếng ăn là bao nhiêu công khó nhọc của người làm ra, vì vậy ở nhà ba Vân hay dạy các con đừng phung phí vật phẩm là như vậy.
Ra đến chợ trời còn mờ mờ chưa sáng tỏ, Sáu tìm chỗ ngồi và bày cho Vân xếp từng miếng lá chuối để gói đậu hũ cho khách mua. Sáu hỏi:
– Chị ngồi bán với em không sợ mắc cở à? Ba má học trò đi chợ nhiều lắm đó.
Vân cười lắc đầu:
– Mình có làm gì xấu đâu mà mắc cở hở em. Chị thích bán hàng để tiếp xúc nhiều người cũng vui vậy.
Hôm ấy Vân ngồi nhìn các bà bán hàng chung quanh thấy thật thú vị, họ mộc mạc cười nói giòn tan và dễ thương hơn các bà, các cô ở chợ trên Sài Gòn nhiều. Ở đó nàng đã thấy khách không mua vì họ nói thách giá cao, là bị họ chửi bới khách ngay. Nhất là người hiền lành là bị các bà bán hàng ăn hiếp tơi bời.
Vân kể cho em Sáu nghe, nó cười hỏi:
– Vậy chị ở với em luôn đi, rồi đi chợ quê thích hơn phải không?
Hai chị em bán chưa hết gánh đậu, trời chưa đến mười giờ đã nắng nóng lắm rồi, cả chợ đã vắng bớt người, khách mua cũng lưa thưa. Sáu giục Vân về thôi vì buổi chiều nàng còn đến trường dạy học nữa.
Hôm ấy là một kỷ niệm đẹp cho nàng và cảm thấy quý và thương nỗi cơ cực của người dân lao động vô cùng.
Rồi có một cuối tuần Duy bỗng xuất hiện. Vì chả biết Duy mất tích lúc nào Vân không để ý, vì lần họp với ban đời sống ở trường, Vân dám nói thẳng chuyện làm ăn bất chánh của họ để xây dựng lại tốt đẹp hơn. Nhưng Vân quá thành thật đến vụng về, nên bị bọn họ thủ đoạn, bào chữa mọi cách vì ngầm có ban giám hiệu đứng sau lưng. Nên họ đã chuyển bại thành thắng, làm Hồng và chị Thái không dám nói theo Vân nữa. Họ sợ quá im luôn. Và Duy hôm ấy không có mặt, như bao lần họp đều như thế. Nhưng một chiều vàng thật đẹp, bỗng Vân ngạc nhiên khi thấy Duy đến nhà thăm. Hôm ấy anh chàng mặc chiếc áo sơ mi caro khá đẹp. Chàng cười vui khoe chiếc răng khểnh duyên. Có chuyện gì mà Duy không tiện nói? Hay vì Vân lại cố tình không muốn hiểu? Cuối hè năm ấy người yêu Vân trở về, chàng vẫn khoẻ mạnh như xưa và phải làm quen cái xã hội đổi thay điêu tàn này, để vươn lên mà sống. Bây giờ viết lại, nàng rất cảm động vì các bạn trai của nàng ngày ấy thật trong sáng, đáng quý làm sao. Họ thương mến nàng bằng tâm hồn còn tinh khôi vừa rời ghế nhà trường, và bắt đầu vào đời “sương gió” bụi bậm này. Ôi, những tâm hồn ấy nay về đâu?
Cuối hè năm ấy gia đình nàng và gia đình người yêu đã làm đám cưới cho hai đứa. Chả biết tại sao Vân không giữ vững lập trường của mình suốt bao năm qua? Vì ngay chính các em nàng còn chọc ghẹo:
– Chị dám ở giá, giống như bà Sáu già ở trước nhà mình thật không?
Và những lời nàng đã nói với anh Soài ngày nào: nếu không gặp được người cùng lý tưởng như mình thì sẽ ở độc thân suốt đời, sướng hơn.
Thế mới biết cái duyên nợ, khó ai hòng thoát khỏi móng vuốt của nó.
***
Vì năm cuối cùng khi Vân còn ở quê nhà, chị Thảnh đã đổi về tỉnh Long An để dạy gần nhà, có lẽ Lý không dám trọ ở trường một mình, chắc cô nàng về nhà Linh?
Cho mãi đến khi Vân sanh con đầu lòng, nàng bận bịu không thể tiếp tục đi dạy xa được, thì chàng Thứ đã tình nguyện dạy thế cho nàng. Sau này Vân hiểu ra, có lẽ ban đời sống và ban giám hiệu ngầm giúp nàng như thế. Nhờ vậy Vân ở nhà trông con và mỗi tháng nàng xuống trường một lần, để lãnh một nửa tiền lương và nhu yếu phẩm.
Trong suốt một năm rưỡi ấy, các bạn trong trường vẫn thương mến và giúp đỡ nàng như vậy. Tình cảm chân thành ấy khiến Vân không giấu chuyện bí mật của mình, nên cho các bạn biết nàng và chồng con đã “ra khơi” nhưng bị thất bại lần đầu. Họ đều vui vẻ ủng hộ và mong nàng thành công.
Đến lần thứ hai, vợ chồng nàng ‘‘ra khơi’’ được an toàn và thành công.
Hai năm sau Vân gởi quà về nhờ ba me nàng mang đến trường tặng Thứ và nhà dì Sáu, để báo tin. Họ mừng vô cùng. Còn nhà dì Bẩy má thằng Lép, thì me không tìm ra được. Đành vậy, nhưng lòng Vân áy náy không nguôi. Nhất là thăm lại gia đình chú thiếm Năm tiệm may và bà ngoại. Bà già như thế chắc gì còn sống?
Trong suốt hơn ba năm dài dạy học ở Cần Giuộc, chuyện đi xe đò thật nhiêu khê đã ám ảnh Vân suốt mấy mươi năm dài. Trong những giấc ngủ, nàng hay mơ thấy mình bị trễ xe, hay phải đứng chờ đợi suốt bao nhiêu giờ mới đến trường hay trở về nhà được. Có nhiều hôm về đến Sài Gòn trời đã tối, đường đã lên đèn buồn vàng vọt, mà nàng còn phải chờ xe bus để về nhà. Những nỗi chán chường ấy, làm sao quên.
Hai mươi năm sau Vân có tin tức của Thứ. Anh vẫn giữ chức hiệu trưởng và đã lập gia đình với cô giáo đồng nghiệp. Ngôi trường nhỏ bé nghèo nàn ngày xưa nay đã thay đổi, tốt đẹp và rộng rãi hơn vì có thêm cấp II.
Nàng ao ước có một lần về thăm các bạn cũ và các ân nhân, nhưng vẫn chưa thực hiện được. Vì càng mất tin nhau suốt bao năm dài thì biết. Ai còn ai mất đây?
Lê Thị Thanh Tâm
___________
(1) Huyện Cần Giuộc nổi tiếng về các cuộc nổi dậy trong thời chiến, và ngã ba Vĩnh Nguyên nằm trong địa bàn ấy. Vùng hạ có 7 xã, đất thấp hơn mặt biển nên nhiễm mặn nhiều hơn vùng thương, nhưng tiện cho nghề nuôi tôm, cá, đi ghe. Vùng thượng có 9 xã, đất cao hơn mặt biển khoảng 1 mét, nên đất tốt hơn trồng hoa mầu và làm ruộng 2 vụ mùa, có lúa nàng Thơm, nàng Chá, bán ở chợ Đào, nhưng rất khó mua được đúng gạo nàng Hương.
(2) thời ấy chỉ mặc áo hoa và quần một màu đen hay trắng, chứ không mặc ngược lại như thời sau này.
(3) cắt tóc.
(4) Câu cắm: cắm nhiều cần câu cắm dựa mé nước,vài giờ đi thăm một lần để gỡ cá.
(5) gieo mạ.
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/vanhocnghethuat/van/buocxuongcuocdoi.html