Nguyên Trí – Hồ Thanh Trước
Chiến Tranh và Hòa Bình
Nhứt thiết duy tâm tạo …
Tâm bình –> Thế giới bình.
Chiến Tranh và Hòa Bình là tên một tác phẩm nổi tiếng của văn hào người Nga Lev Nikolaïevitch Tolstoy (Léon Tolstoï – Leo Tolstoy), phát hành vào năm 1869. Trong tác phẩm này ông mô tả về tầng lớp thượng lưu mà chính ông thuộc tầng lớp này, vào thời điểm quân đội của Napoleon xâm lược Nga năm 1812. Đây là bức tranh rộng lớn về sự phức tạp của đời sống xã hội và tâm lý con người. Qua tác phẩm này, chúng ta khám phá ra rằng chiến tranh không chỉ là một trận chiến của quân đội, mà còn là tấm gương phản ảnh nỗi sợ hãi, hy vọng và khát vọng sâu sắc nhất của mọi người. Điều nổi bật là sự phản ảnh sâu sắc và độc đáo trong lịch sử và bạo lực trong cuộc sống con người.
Là phật tử, tôi xin tạm mượn tên của tác phẩm này để nói lên những phức tạp và bạo lực trong cuộc sống chánh trị xã hội hiện tại trên toàn cầu. Vì xưa nay gần như không có ngày nào không có chiến tranh, xung đột, xảy ra một nơi nào đó trên địa cầu. Bước sang thế kỷ 21 này dường như nạn chiến tranh không hề giảm mà có vẻ tăng cao dưới nhiều dạng khác nhau.
Chiến Tranh
Chiến tranh được định nghĩa là trạng thái xung đột võ trang giữa nhiều nhóm chính trị được thành lập, chẳng hạn như các quốc gia. Ngược lại với chiến tranh giữa các quốc gia, chiến tranh cũng có thể chỉ một cuộc xung đột võ trang giữa hai phe phái đối lập trong cùng một quốc gia: khi đó chúng ta nói đến chiến tranh tôn giáo, nội chiến, chiến tranh sắc tộc, chiến tranh cách mạng hoặc thậm chí là chiến tranh ly khai. Nguyên nhân của chiến tranh thường vì các vị lãnh đạo vì cái “Tôi”, “Của Tôi; Quốc gia của tôi; Phe nhóm của tôi; v.v…”
Ngày nay còn có thêm các dạng chiến tranh khác như: “chiến tranh” thương mại giữa các quốc gia, các nhà sản xuất, phân phối sản phẩm; “chiến tranh” băng đảng phân phối các loại cần sa ma túy, hàng quốc cấm; chiến tranh giữa thiện và ác;…
Con người đã phải đối mặt với chiến tranh từ thời tiền sử và trong suốt chiều dài lịch sử, và lịch sử của xung đột võ trang đã được ghi chép lại đầy đủ trong sử địa của mọi quốc gia, dân tộc. Trong suốt lịch sử loài người, con người đã tìm kiếm nguyên nhân và cố gắng tìm ra gốc rễ của chiến tranh, xung đột. Hơn nữa, để hiểu được những hình thức khác nhau, các loại hình dạng chiến tranh đã được định nghĩa, mô tả và nghiên cứu để tránh tái diễn hoặc có khi để rút kinh nghiệm cho các cuộc chiến kế tiếp!
Những khám phá khoa học của thế kỷ 20 dẫn đến việc chế tạo bom nguyên tử đã mở ra viễn cảnh về chiến tranh nguyên tử. Chiến lược của các quốc gia cần phải được xem xét lại. Vũ khí nguyên tử dùng để đe dọa, ngăn ngừa đối phương, nhưng ngược lại nó cũng có thể đưa đến sự hủy diệt lẫn nhau. Ngay cả một cuộc chiến tranh thông thường cũng mang theo rủi ro nguyên tử.
Số lượng các cuộc chiến tranh đã giảm dần kể từ khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc, nhưng lại có sự gia tăng về số lượng các cuộc chiến tranh vào đầu thế kỷ 21 này.
Chánh Trị Toàn Cầu (Geopolitics)
Ngày nay, một số nhà lãnh đạo của các cường quốc dường như không hài lòng với vị thế của mình và vì lòng tham, họ muốn xâm lược các nước láng giềng, và thậm chí xa hơn là xâm lược toàn thế giới!
Hoặc vì những mối hận thù, hiềm khích giữa hai quốc gia, họ đã gây tạo chiến tranh mang lại đau khổ cho hàng triệu người dân đang có một cuộc sống an lành, trở nên hoàn toàn tay trắng hay mất mạng.
Vì lý do này, một số lớn các quốc gia đang tái võ trang, vũ khí, tăng cường quân đội, gây nên tình trạng thiếu hụt ngân quỹ quốc gia dành cho các việc an ninh xã hội cho người dân trong quốc gia họ. Điều này đã gây không ít mâu thuẫn giữa chánh quyền và dân chúng đưa đến các cuộc biểu tình đình công … gây bạo động giữa người tham dự và lực lượng cảnh sát, một loại “chiến tranh” xã hội!
Chiến tranh trong tác phẩm văn hóa, phim ảnh
Mặc dù các chiến tranh này được các nhà lãnh đạo biện minh dưới chiêu bài đẹp như: “chánh nghĩa”; “ý thức hệ”; “giải phóng dân tộc”; “cách mạng xã hội”; hoặc dưới một chiêu bài hợp lý hơn “bảo vệ đất nước chống lại sự xâm lược của nước ngoài” hoặc “đấu tranh chống lại một chính phủ bất công”, v.v…
Một vài tác phẩm dưới đây cho chúng ta nhận thấy những thảm cảnh về chiến tranh:
Các tác phẩm, tài liệu, phim ảnh này chỉ nêu lên một phần nào, một khía cạnh của thảm trạng chiến tranh. Trên thực tế những nạn nhân trong cuộc phải hứng chịu nhiều đau khổ, bất hạnh không thể tả hết qua vài trang sách hay vài đoạn phim.
Tuy nhiên quyển sách về chiến tranh đã gây ấn tượng mãnh liệt nhất trong tâm tôi, một quyển sách tôi tìm thấy trong tủ sách của ba tôi, một người xuất thân trường ESA (École Santé des Armées) tiền thân trường EMSLB (Écoles militaires de santé de Lyon-Bron), lúc tôi 13, 14 tuổi: – Quyển sách mang tựa đề “J’étais médecin à Dien Bien Phu” một tác phẩm của bác sĩ Thiếu Tá Paul Grauwin. Ông viết: “Trong suốt năm mươi sáu ngày và năm mươi sáu đêm, lún sâu đến tận bắp chân trong bùn, với sự trợ giúp của một vài y tá và sau đó, kể từ ngày 13 tháng 3, với sự trợ giúp của một nữ y tá phi cơ cứu thương có cái tên huyền thoại, Geneviève de Galard, bác sĩ Paul Grauwin đã phải thực hiện 1.500 cuộc giải phẫu. Công việc giải phẫu diễn ra giống như Chặng Đường Vác Thánh Giá (Via Crucis, lễ trong Thiên Chúa Giáo). Những người bị thương và những người đang được giải phẫu ngày càng đông, bị dồn nén trong một không gian hạn chế, biến đơn vị giải phẫu thành một bệnh viện kỳ lạ, giống như ở bờ sông Styx (con sông giữa trần gian và địa ngục trong thần thoại Hy Lạp). Tiếng la hét, bùn đất, máu, sự thối rữa, mùi hôi thối, sức nóng khủng khiếp... và sự thất bại.” …
<=== (Ấn bản đầu tiên – 1954)
Chúng ta hãy bỏ qua các chiêu bài đẹp mà các nhà lãnh đạo biện minh cho các cuộc chiến của họ để nhìn vào các thực tế thảm cảnh của chiến tranh là: đau khổ, thương vong, đói khát, bạo lực, mà những người phải gánh chịu là binh sĩ của hai lực lượng đối đầu và những người dân lành quanh các cuộc chiến nhất là đàn bà thường bị hãm hiếp và trẻ con bị sát hại! Các vị lãnh đạo thì quá cao quá xa không ảnh hưởng gì đến họ và vì “tam độc” cùng cái “tôi” trong tâm, họ vẫn tiếp tục đẩy đồng loại vào lò lửa chiến tranh.
Dù là phe “chánh nghĩa” hay phe “bất chánh”, thảm cảnh của những người trong cuộc chiến giống như nhau!!
Hòa Bình
Theo Cambridge Dictionary Hòa Bình được định nghĩa một cách đơn giản như sau: “Tự do, khỏi chiến tranh và bạo lực, đặc biệt là khi mọi người sống và làm việc cùng nhau một cách vui vẻ mà không có bất đồng”.
Về mặt xã hội học, hòa bình là sự thân thiện của tất cả các cá nhân tạo nên giữa một hoặc nhiều xã hội dân sự hoặc quân sự. Điều này không có nghĩa là không có xung đột, mà là giải quyết một cách bình tĩnh và có chừng mực mọi khó khăn phát sinh trong đời sống cộng đồng, qua việc lắng nghe, hiểu biết, đối thoại, đàm phán hoặc thông qua trao đổi hàng hóa như buôn bán hoặc đổi hàng. Hòa bình cũng bao hàm sự ưa thích sự bình tĩnh, cũng như khả năng chung sống thanh thản với người khác: cá nhân hoặc xã hội. Trong đó, hòa bình chính là lợi ích chung cho sự phát triển có nguồn gốc từ sự thịnh vượng.
Nếu mối quan tâm này không được chia sẻ, đó là vì không có năng lực tiên phong và có tầm nhìn xa để làm phong phú thêm sự phát triển, bất kể đó là gì: kinh tế, đổi mới, văn hóa, bền vững, tri thức, xã hội. Hòa bình không phải là một lý tưởng hay một điều mộng tưởng. Căn bản, hòa bình là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế và mọi thứ liên quan đến nó: văn hóa, giáo dục, động lực... Đây là trái tim của nền kinh tế. Không có hòa bình thì không thể có nền kinh tế thịnh vượng. Trong đó chúng ta có thể nói rằng hòa bình là kinh tế và kinh tế là hòa bình. Chiến tranh chính là sự rối loạn chức năng của nền kinh tế. Nguồn gốc của nền kinh tế là sự thịnh vượng. Sự thịnh vượng là nguồn gốc của nền kinh tế. Chiến tranh là sự hỗn loạn ngăn cản nền kinh tế tồn tại. Nền kinh tế không thể được định nghĩa theo nguyên tắc lợi nhuận của một số ít cá nhân, mà là của toàn thể cộng đồng và xã hội.
Theo nghĩa này, hòa bình giữa các quốc gia là mục tiêu của nhiều quốc gia, dân tộc và tổ chức như Liên Hợp Quốc hoạt động vì hòa bình, ít nhất trên danh nghĩa.
Sự kết hợp giữa hòa bình và mặt đối lập của nó (chiến tranh, bạo lực, xung đột, giận dữ, v.v.) là một trong những chìa khóa cho nhiều học thuyết, tôn giáo hoặc chính trị, một chìa khóa cơ bản mặc dù nhìn chung không rõ ràng. Nhưng hòa bình không thể được định nghĩa bởi thực tế là nó mang tính chính trị hay tôn giáo, mà bởi thực tế rằng nó rõ ràng là một điều kiện cho cuộc sống.
Chiến tranh trong quan niệm Phật giáo
Phật giáo luôn được coi là tôn giáo của hòa bình. Hơn nữa, giáo thuyết và lời cầu nguyện của Phật giáo kêu gọi sự thanh thản an lành trên khắp thế giới.
Phật giáo tin rằng hòa bình đạt được bằng cách chấm dứt đau khổ. Sự đau khổ bắt nguồn từ tâm của sự thèm muốn cực đoan là lòng tham, một trong “Tam Độc: tham, sân, si” và đau khổ là sự bám víu vào kết quả mong muốn. Để loại bỏ nỗi đau và sự đau khổ đó và đạt được sự bình yên cá nhân, những người theo con đường của Đức Phật tuân theo một bộ giáo lý gọi là Tứ Diệu Đế – một giáo lý căn bản trong triết lý Phật giáo.
Ở mức độ cá nhân, Phật giáo dạy hành giả lối sống lành mạnh. Kinh điển và giáo lý mang lại động lực và niềm an ủi cho mọi người để đối mặt với mọi vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Ở mức độ xã hội, Phật giáo dạy rằng nên ưu tiên người khác trước khi chăm lo cho nhu cầu của bản thân. Phật giáo luôn chống chiến tranh và bạo lực.
Với các quan điểm nêu trên, Giáo thuyết của Đức Phật để có được Hòa Bình tương đối đơn giản qua lời kệ trong Kinh Pháp Cú:
Chư ác mạc tác |
Không làm điều ác |
Chúng thiện phụng hành |
Làm mọi điều lành |
Tự tịnh kỳ ý |
Giữ TÂM thanh tịnh |
Thị chư Phật giáo |
Lời chư Phật dạy |
Vì ‘Nhứt Thiết Duy Tâm Tạo’ cho nên ‘Tâm Bình ==> Thế Giới Bình’ . Tâm lành nghĩ và làm điều thiện lành và ngược lại, điều bất thiện phát xuất từ tâm bất thiện.
Đức Phật đã trích dẫn rằng: “bạo lực là vũ khí của kẻ bất thiện”. Điều đó có nghĩa là chiến tranh hoặc việc sử dụng bạo lực không phải là hành động chính đáng. Phật tử không nên sát sanh hại vật, bất kể trong hoàn cảnh nào. Phật giáo kêu gọi các Phật tử từ bỏ mọi hình thức bạo lực hoặc thậm chí là chiến tranh chống lại các chúng sinh khác.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói rằng: “Trong Phật giáo không có lý do chính đáng nào để sử dụng bạo lực vì bất kỳ mục đích nào”. Ngài ủng hộ ý tưởng này trong bài phát biểu của mình: “Tôi tin rằng chúng ta ngày càng quan sát thấy trên thế giới một hình thức sâu sắc liên quan đến bạo lực, xung đột, chiến tranh, một loại ghê tởm, khi tự nhủ rằng chúng ta phải bằng cách này hay cách khác giảm thiểu điều này thay vì khuyến khích nó như trước đây, cố gắng chấm dứt nó, tìm cách giảm bạo lực và chiến tranh”.
Ý niệm hòa bình trong Phật Giáo
Phật giáo không những phản đối chiến tranh, lại còn thúc đẩy khái niệm hòa bình thế giới. Một số câu nói nổi tiếng của Đức Phật chứng minh cuộc đấu tranh này của người Phật tử.
Giáo huấn về lòng từ bi
Phật giáo dạy rằng thay vì gây chiến, tốt hơn là nên áp dụng các nguyên tắc của lòng từ bi. Chiến tranh, khủng bố và giết người là những hành động xấu xa đối với xã hội. Nói tóm lại, bạo lực bắt nguồn từ sự tức giận, thù hận, thiếu giao tiếp và hiểu sai suy nghĩ của người khác. Nói cách khác, sự hiểu biết từ bi có thể xóa bỏ chiến tranh và bạo lực, từ đó từ bỏ việc làm hại người khác.
Đời sống là một sự tương giao giữa người với người, cũng như giữa con người và thiên nhiên. Trong giáo lý nhà Phật có câu: “Phật pháp bất ly thế gian giác”, vì đức Phật được sinh ra như bao người, ngài thành đạo ngay thế gian này, và dạy cho nhân loại phương pháp thoát khổ, có được bình an và hạnh phúc ngay trong đời này. Trong muôn ngàn lời giáo huấn mà đức Phật để lại, Lục Hòa được xem là một trong những pháp hành vô cùng quan trọng, mang lại sự an bình cho từng cá nhân cũng như đoàn thể. Là phật tử chúng ta hiểu rằng Pháp Lục Hòa không chỉ dành cho các bậc xuất gia ứng dụng thực hành trong đời sống Tăng đoàn, mà đó còn là cách cư xử dành cho tất cả mọi người, nếu chúng ta khéo léo ứng dụng pháp Lục Hòa trong mọi tổ chức từ gia đình, công sở, phạm vi quốc gia cho đến toàn thế giới thì chiến tranh khó có thể xảy ra.
Chiến đấu và chiến thắng chính bản thân
Thay vì nghĩ đến một cuộc chiến tranh dựa trên sự khác biệt về tôn giáo, chủng tộc hoặc quan điểm chính trị, Đức Phật khuyến khích mọi người hãy chiến đấu trong trận chiến cá nhân của mình. Bao gồm việc tìm kiếm sự bình yên trong chính mình để đạt được thành công trong cuộc sống gia đình, tình yêu và sự nghiệp. Rất nhiều chuyên gia giảng dạy về phát triển bản thân không thể thoát khỏi những câu trích dẫn sau đây.
Có phải chiến tranh lúc nào cũng xấu?
Phật giáo khuyến khích hành giả nhìn xa hơn sự phán xét đúng/sai đơn thuần. Trong Phật giáo, hành động gieo mầm nghiệp chướng là điều đáng tiếc ngay cả khi điều đó là không thể tránh khỏi. Đôi khi phật tử chiến đấu để bảo vệ đất nước, nhà cửa và gia đình của họ. Điều này không thể được coi là “xấu”, nhưng ngay cả trong những trường hợp này, việc nuôi dưỡng lòng căm thù kẻ thù vẫn là một hành động tạo nghiệp. Và bất kỳ hành động chiến tranh nào gieo mầm nghiệp chướng trong tương lai đều là bất thiện. Đạo đức nhà Phật dựa trên nguyên tắc chứ không phải luật lệ. Những nguyên tắc của Phật giáo được thể hiện trong giới luật và bốn đức tính vô lượng (Tứ Vô Lượng Tâm) – từ, bi, hỷ, xả. Nguyên tắc này cũng bao gồm lòng tốt, sự nhẹ nhàng, lòng thương xót và sự khoan dung. Ngay cả những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất cũng không xóa bỏ được những nguyên tắc này hoặc khiến việc vi phạm chúng trở nên “đúng” hay “tốt”. Nguyên tắc của phật giáo cũng bao gồm lòng tốt, sự nhẹ nhàng, lòng thương xót và sự khoan dung. Ngay cả những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất cũng không xóa bỏ được những nguyên tắc này hoặc khiến việc vi phạm chúng trở nên “đúng” hay “tốt”.
Tuy nhiên, cũng không “tốt” hay “đúng” khi đứng nhìn những người vô tội bị tàn sát. Và cố Thượng Tọa Tiến sĩ K Sri Dhammananda, một nhà sư và học giả Phật giáo Therevada, đã nói: “Đức Phật không dạy các đệ tử của mình khuất phục trước bất kỳ hình thức thế lực tà ác nào, dù là của con người hay siêu nhiên”.
Yêu thương kẻ thù
Chúng ta cũng được kêu gọi thể hiện lòng tốt và lòng trắc ẩn với kẻ thù, ngay cả khi đối mặt với họ trên chiến trường. Chúng ta có thể nói rằng điều đó là không thể có được, nhưng đó là con đường của Phật giáo.
Mọi người đôi khi nghĩ rằng mình phải ghét kẻ thù của mình. Họ có thể nói, ‘Làm sao ta có thể nói tốt về một người ghét ta?’ Quan điểm của Phật giáo về vấn đề này là chúng ta luôn có thể lựa chọn không ghét lại người khác. Nếu chúng ta phải chiến đấu với ai đó, hãy chiến đấu vì trách nhiệm, bổn phận, nhưng không mang lòng hận thù.
Một thí dụ điển hình cho lòng yêu thương kẻ khác chiến tuyến (kẻ thù) là vị bác sĩ thiếu tá Paul Grauwin tác giả quyển sách trên đây bị bắt làm tù binh, sau khi Việt Minh chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được phe thắng cuộc thả khỏi tù vì trong trận chiến ông đã chăm sóc cho thương binh cả hai phe, Pháp và Việt Minh. Tâm lành của ông tạo nhân lành và được hưởng quả lành.
Trong lịch sử loài người, chiến tranh thường gieo mầm cho những cuộc chiến tranh tiếp theo. Và thông thường, bản thân các trận chiến ít gây ra nghiệp chướng hơn là cách quân đội chiếm đóng đối xử tàn tệ với dân thường hoặc cung cách kẻ chiến thắng làm nhục và áp bức kẻ bại trận. Ít nhất, khi đến lúc phải ngừng chiến đấu thì hãy ngừng chiến đấu. Lịch sử cho thấy rằng kẻ chiến thắng đối xử với kẻ bại trận bằng lòng độ lượng, thương xót và khoan dung thì có nhiều khả năng đạt được chiến thắng lâu dài và hòa bình cuối cùng.
Chủ nghĩa thực dân của những kẻ đại chinh phục
Chủ nghĩa thực dân là một học thuyết hoặc hệ tư tưởng biện luận cho việc thực dân hóa được hiểu là việc mở rộng chủ quyền của một quốc gia đối với các vùng lãnh thổ nằm ngoài biên giới quốc gia của quốc gia đó. Mở rộng chủ quyền của một quốc gia đều mang theo sự thống trị về mặt chính trị và khai thác kinh tế đối với lãnh thổ bị sáp nhập và cuộc mở rộng này thường bắt đầu bằng chiến tranh!
Thành trụ hoại diệt (không), tự cổ chí kim, tất cả các những kẻ đại chinh phục theo chủ nghĩa thực dân như Attila, Alexander the Great, Genghis Khan, Napoléon, hoặc Hitler v.v… đã chứng minh điều nêu trên đây. Tất cả đã thành công trong các chiến thắng của mình: đó là Thành; họ giữ vững được những vùng đất chiếm được trong một thời gian dài: đó là Trụ; rồi vì nhiều lý do khác nhau như sự chống đối của những người bị trị, thế lực chính trị, v.v…, đưa đến: Hoại; và tất cả Thành, Trụ trở về: Không.
Phải chăng chỉ có nền hòa bình trong tâm thoát được định luật “Thành trụ hoại diệt (không)”? – Một đề tài thiền quán cho mọi phật tử.
Nhứt Thiết Duy Tâm Tạo: Tâm Bình => Thế Giới Bình và khi Thế Giới Bình => Chúng Sanh An Lạc
Nguyên Trí – Hồ Thanh Trước
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/vanhoaxahoi/xahoi/chientranhvahoabinh.html