Krishna Trần
Thách thức rất lớn đối với các tu sĩ Phật giáo Việt Nam tại Mỹ sắp tới

Những Bước Chân An Lạc của Giới Trẻ Mây Từ
Tuổi trẻ và “hoành tráng”
Tôi đứng ngẩn ngơ trước ngọn tháp dát vàng cao ngất tại một ngôi chùa rất nổi tiếng ở ngoại ô Sài Gòn. Cách đây hơn 40 năm, trong trí nhớ của tôi, nơi đây là một ngôi chùa nhỏ bé, lụp xụp, trên một ngọn núi đá khô cằn. Anh sinh viên năm thứ nhất, là tôi, hay đạp xe đến vào mỗi cuối tuần để viếng ngôi chùa nghèo, để nhìn một không gian hãy còn hoang sơ trải dài trước mắt.
Đang trôi dạt về những hoài niệm xa xôi như thế, thì cậu con trai tôi lên tiếng: “Sao to lớn dữ vậy? Sao không làm cái gì có ích cho cộng đồng?”
Tôi hơi… sững người, lặng im gần một phút rồi trả lời: “Thì những người có tâm trạng buồn phiền đến đây, hết buồn phiền, thì cũng là lợi ích cho cộng đồng rồi!”
Cậu con trai im lặng, nhưng vẻ mặt không hề được thuyết phục.
Cậu này, năm nay hơn 25 tuổi, lớn lên ở Mỹ, và có được sự hiểu biết về đạo Phật từ nhà trường Mỹ. Có lần cậu nói với tôi rằng: “Đạo Phật là một triết lý sống hơn là một tôn giáo”.
Dĩ nhiên, đạo Phật là triết lý hay là tôn giáo, hay là cả hai, là chủ đề có nhiều tranh cãi, nhưng đây không phải là điều tôi muốn đề cập đến trong bài viết này, mà điều tôi muốn viết ra đây là thái độ của giới trẻ như cậu con tôi đối với đạo Phật, hay ít nhất đối với những hình tướng thể hiện ra bên ngoài của đạo Phật, đặc biệt là đạo Phật Việt Nam tại Mỹ, nơi tôi đang sống và hiểu rõ hơn đạo Phật trong nước.
Phật giáo của người già, người bệnh, và người chết
Việc thu hút giới trẻ đến với những ngôi chùa Việt Nam tại Mỹ, là một câu chuyện không mới, chắc cũng đã được nêu lên không ít hơn 30 năm nay.
Không có gì khó để nhận ra rằng đám đông tới các chùa tại Mỹ, là các cụ già tóc bạc phơ, đa số là phụ nữ, còn những người trẻ tuổi chỉ đến chùa vào những dịp cúng kiến, tang chế của gia đình họ, họ tuân theo truyền thống và làm theo những người lớn trong gia đình, vì lòng hiếu đễ với ông bà, cha mẹ. Nhưng chỉ có thế, họ không đến chùa để tìm kiếm điều gì cho chính họ.
Một thượng tọa ở miền Nam California có nói với tôi rằng… “người ta có chuyện mới lên chánh điện!” Chuyện rõ ràng là những ông bà cụ người Việt đến chùa vì lòng tín ngưỡng (đôi khi pha trộn cả mê tín), và đó chính là chuyện của họ, vì chuyện ấy nên họ mới lên chánh điện!
Nhưng đó không phải là chuyện của người trẻ tuổi. Một người bạn tôi sống ở vùng Vịnh San Francisco, khi được hỏi rằng anh ấy thường đi chùa nào, thì câu trả lời là… đi chùa để làm gì? Người bạn này hơn 40 tuổi, xuất thân từ một gia đình Phật giáo thuần thành, từng có ý xuất gia lúc còn trẻ, và rất thành đạt trong dòng chính của xã hội Mỹ.
Đám đông đến các ngôi chùa Việt tại Mỹ là đám đông tín ngưỡng và cúng kiến. Một hòa thượng, ở chỗ thân tình có nói rằng, mỗi lần có cúng kiến liên quan đến tang lễ thì số tiền cúng dường cho chùa và cho thầy lên đến $400 hay $500 là chuyện thường. Mà với một gia đình theo truyền thống khi có người mất thì những nghi thức cúng kiến đó kéo dài khá lâu, nào là tuần thất, rồi 49 ngày, 100 ngày, rồi giỗ đầu,… và có thể những ngày giỗ tiếp theo nữa. Thế cho nên, chuyện tài chánh của những ngôi chùa có nghi thức cúng kiến càng màu sắc, càng rộn rã, thì càng sung túc. Và chùa nào cũng có nơi thờ vong linh, nguồn tài chính dồi dào của chùa.
Nhưng điều đó cũng là điều làm cho một đại đức nhận xét với tôi: Đạo Phật của người Việt (tại Mỹ) hiện nay là đạo Phật cho người bệnh, người già (cúng cầu an), và người chết (cúng cầu siêu và nhiều loại cúng khác).
Mà không chỉ có cúng kiến, loại ngôn ngữ tiếng Việt dùng cho những nghi thức này ở các ngôi chùa gần như 100% là tiếng Hán Việt, và mang nhiều màu sắc huyền bí, khiến cho các ông bà cụ lúc nào cũng phải cúi đầu khi nghe thấy. Chẳng hạn như người ta sẽ không nói mời mà là thỉnh, khi một vị sư đến chánh điện người ta sẽ không nói là đến, mà là quang lâm, khi thưa chuyện với các tu sĩ người ta không nói là thưa, mà là tác bạch… Có thể là loại ngôn ngữ bí hiểm pha lẫn hào nhoáng triều đình phong kiến xưa kia, có tác động thần quyền với lớp người già cả, gây ra một sự kính trọng xen lẫn sợ hãi mơ hồ, nhưng tôi không nghĩ nó có ý nghĩa gì với lớp trẻ.
Số người Việt trong cộng đồng người Việt tại Mỹ cần đến Phật giáo ngày càng ít đi một cách trông thấy theo thời gian. Những người trẻ nhất đi tị nạn tại Mỹ vào năm 1975, đến nay cũng đã 70, 80,… Số người ấy ở các chùa Việt hiện nay tại Mỹ được bổ sung thêm bằng lớp người Việt mới di cư về sau, số đông từ nông thôn Việt Nam, hay thuộc tầng lớp bình dân, đến Mỹ sống bằng những dịch vụ không đòi hỏi nhiều về học vấn. Trong số này cũng có người còn trẻ.
Nhưng số thanh niên, trung niên người Việt, sinh ra, hoặc lớn lên ở Mỹ, không có nhiều ở các ngôi chùa.
Tiếng Anh, và không chỉ là tiếng Anh
Các vị hòa thượng, thượng tọa người Việt trụ trì ở các ngôi chùa Việt tại Mỹ, cũng có khi nêu vấn đề tuổi trẻ người Việt xa rời chùa chiền, và lý do các vị ấy đưa ra thường là lý do ngôn ngữ, vì đại đa số các tu sĩ Phật giáo người Việt tại Mỹ không nói được tiếng Anh, và phần đông là từ Việt Nam qua theo loại visa tôn giáo.
Nhưng tiếng Anh không phải là tất cả. Tôi có biết một vị tu sĩ, nói tiếng Anh rất thạo, nhưng những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên thì hầu như không có. Điều ấy cũng sẽ không phải là chuyện gì lớn nếu vị tu sĩ ấy tu một mình trong rừng, nhưng nếu phải đăng đàn thuyết pháp trước đám đông, thì sẽ phải đối mặt với những câu hỏi không dễ dàng. Tuổi trẻ người Việt lớn lên tại Mỹ có thể dễ dàng chấp nhận giải thích thế giới qua lăng kính của lý thuyết bảo toàn năng lượng của Lavoisier, mà nó không khác lắm thuyết thập nhị nhân duyên của nhà Phật, nhưng họ sẽ không chấp nhận những câu chuyện ma quỉ thần tiên đầu thai kiếp này kiếp kia một cách khơi khơi được.
Nhưng những câu chuyện ma quỉ đầu thai ấy lại là những câu chuyện ta hay nghe thấy ở những ngôi chùa hiện nay, trước những mái tóc bạc đang cúi xuống, và những tâm hồn đang lạc lõng mới từ Việt Nam qua.
Số phật tử gồm hai thành phần ấy hiện vẫn đủ sức nuôi dưỡng những ngôi chùa, có khi còn đủ sức nuôi những ngôi chùa lớn. Một ngôi chùa rất vĩ đại vừa được khánh thành cách đây không lâu tại miền Bắc California. Tôi nghe nói chủ chùa là một vị sư “cúng kiến” rất có “uy tín” trong vùng. Có những đại gia bỏ ra hàng triệu đô la để góp phần xây dựng nên ngôi chùa ấy, mà người bạn tôi sống ở vùng Vịnh San Francisco gọi nó là một điểm du lịch. Nhận xét của anh ấy làm tôi liên tưởng đến nhiều ngôi chùa khác, có những “vườn tượng”, gợi nhớ các “theme parks” như Disney Land hay vô số các công viên giải trí khác tại Mỹ. Dĩ nhiên “theme parks” cũng lôi cuốn tuổi trẻ người Mỹ, nhưng tôi tự hỏi, chả lẽ đã đến lúc chùa chiền Phật giáo của chúng ta phải cạnh tranh với Disney Land?
Ngoài ngôn ngữ và kiến thức, thái độ đối với tu sĩ của thế hệ trẻ người Việt cũng sẽ không còn giống với cha mẹ, ông bà họ.
Khi tôi kể với một chị Phật tử lớn tuổi những câu chuyện tai tiếng liên quan đến uy tín của các vị tu sĩ, có khi liên quan đến cả luật pháp, thì câu trả lời của chị là chuyện ấy chị không quan tâm, mà vẫn một lòng kính trọng bất cứ vị tu sĩ nào. Suy nghĩ này là phổ biến trong đại đa số quần chúng Phật tử lớn tuổi, nhưng tôi không nghĩ rằng giới trẻ người Việt lớn lên tại Mỹ, có thể chấp nhận dễ dàng như vậy.
Hy vọng
Có lẽ bức tranh cũng không hoàn toàn máu xám như tôi liệt kê ra từ đầu đến đây.
Anh bạn vùng San Francisco của tôi dẫn cậu con trai đến tu viện Lộc Uyển của thiền phái Làng Mai. Khi nhìn thấy ngôi chánh điện đơn giản và trang nghiêm của tu viện, cậu bé 18 tuổi thốt lên: Nó phải như thế này mới đúng.
Có lẽ cũng không cần nhắc lại vai trò lớn lao của Phật giáo Làng Mai, do cố thiền sư Thích Nhất Hạnh sáng lập, có ảnh hưởng thế nào đối với phương Tây và giới trẻ phương Tây, trong đó có các bạn trẻ gốc Việt Nam. Một thượng tọa xuất thân từ thiền phái này cho tôi biết rằng tại Canada, thượng tọa Thích Pháp Hòa có hai ngôi chùa, một dành cho những nghi thức cúng kiến cũ, còn cái kia dành cho giới trẻ với nội dung hầu như trùng với nội dung được thuyết giảng của Làng Mai.
Trở lại với cậu con trai tôi. Sau “sự cố” “làm gì có ích cho cộng đồng” trước ngôi tháp vàng hoành tráng tại ngoại ô Sài Gòn, chúng tôi đi thăm trung tâm lịch sử của Sài Gòn. Tôi rụt rè đề nghị cậu chụp ảnh với anh cậu trước bức tượng hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, cậu bé vốn không thích chụp ảnh, vui vẻ và tự hào nhận lời.
Trở về Mỹ, tôi suy nghĩ là có nên dẫn con trai đi thăm ngôi chùa Việt “hoành tráng” nhất miền bắc California, vừa khánh thành cách đây không lâu hay không?
Có lẽ không nên!
Krishna Trần
San Francisco
Rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ
Nguồn: Việt Báo, 13.03.2026
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/vanhoaxahoi/vanhoa/thachthucratlondoivoi.html