Hồ ngọc Danh


Bác sĩ của dân nghèo

   

Lời mở đầu:

Ngày xưa nền y học đều tập trung ở những đô thị nhiều dân cư sầm uất như Sài Gòn, Huế hay Hà Nội; nơi hiện diện những lương y tài ba lỗi lạc.

Dân nghèo sống ở thôn quê hay núi cao hẻo lánh, khi đau yếu bệnh hoạn chỉ biết nhờ theo kinh nghiệm của ông cha tổ tiên bao đời truyền dạy. Lúc phát rừng làm nương rẫy, nhiễm lam sơn chướng khí, trái gió trở trời mà đau bệnh, chỉ biết cạo gió xông hơi. Quanh nhà thường trồng  nhiều loại cây cỏ để hổ trợ khi cần thiết.

“Người Nam phải dùng thuốc Nam” chính là châm ngôn của nền Y học cổ truyền dân gian vậy.

Phần một: Thuốc Nam

Bà hai Liền nhà ở tại thôn Phước Trung hạt Đất Đỏ là một bà thầy thuốc Nam. Lối xóm quanh vùng biết nhiều về bà, không chỉ vì bà mát tay chữa khỏi bệnh mà chính là lòng từ thiện thương người, không quản ngại phiền toái khổ cực, dùng hết kiến thức hiểu biết để làm thuốc trị bệnh. Bà nổi tiếng vì xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo khổ, chân lấm tay bùn cho nên sống hoà mình. Đối với người có hoàn cảnh khó khăn, chẳng những bà không lấy tiền công tiền thuốc, mà còn sẵn lòng chu cấp thêm thức ăn cùng hiện vật cho sinh hoạt của người bệnh.

Địa hạt Đất Đỏ khi đó vào thời Pháp thuộc cũng có nhiều lương y tài giỏi như Thầy Ba Hùng (truyện Lương y họ Huỳnh – cùng tác giả), Thầy Ba Giỏi... Nhưng phải nói rằng những hạng khố rách áo ôm không dám vào nhà các Thầy gõ cửa, trừ trường hợp thập tử nhất sinh mà thôi.

Bà Hai Liền nổi tiếng với phương pháp chữa bệnh không cần thuốc là dùng vật nhọn, sắc bén đâm hay cắt vào một nơi mà nghĩ là sẽ chi phối bệnh tình trong cơ thể, để máu độc chảy ra thì khí huyết sẽ lưu thông. Làm giảm đau nhức cấp thời.

Và dùng dược thảo xông hơi mà đại đa số toàn là hương liệu có sẵn trong vườn nhà hay hàng xóm như: Tía tô, bạc hà, khuynh diệp, kinh giới, lá ổi, lá sả, vỏ bưởi, rễ khoai…

Bà Hai có tất cả là 5 người con, ba người con gái đều được chân truyền nghề thuốc nam.

Ngoại của người viết chính là trưởng nữ của bà Hai Liền: bà Tư Gành.

Được học nghề thuốc nam từ má của mình, cô Tư Gành thường phụ giúp, bào chế thuốc mà chất liệu là cây cỏ; những bài thuốc gia truyền để trị nhiều chứng bệnh rất hiệu nghiệm.

Ảnh hưởng đức tánh thương người của bà Hai Liền, nhẫn nhục, hòa nhã và chịu đựng. Cô Tư chiếm được cảm tình của các bà lang người Hời (dân tộc Chiêm Thành). Và biết thêm những công dụng chữa bệnh của một số cây cỏ mà từ lâu các bà lang người Hời tuyệt đối bảo mật không bao giờ truyền cho người ngoài dòng họ.

Cả hai nền y học được tiếp thụ trong người, cô Tư Gành đương nhiên phải giỏi hơn chính má của mình và là trụ cột trong gia đình từ đấy.

Người Chiêm Thành là một dân tộc bị mất đất nước từ lâu, sống rải rác khắp cả miền trung duyên hải cho đến tận đồng bằng đông nam bộ. Bởi vì cuộc sống gắn liền với thiên nhiên và để bảo vệ sinh tồn, cho nên người Hời biết cách sử dụng nhiều loại cây cỏ để chữa bệnh.

Họ tự hào với những phương thuốc cổ truyền độc đáo có một không hai và nhiều người làm kế sinh nhai bằng nghề bán thuốc dạo.

Ở hiền thì gặp lành, cô Tư Gành nhờ tánh tình nhân hậu, vị tha, thương người cùng khổ, nên mới biết được công dụng những bài thuốc nam của người Hời; biết được loại cỏ hoang như là cây mắc cỡ trị về xương khớp, cây chó đẻ làm mát gan, giải nhiệt hay chùm ngây sẽ điều hòa kinh nguyệt cho phụ nữ…

Một người con gái giỏi giang như cô Tư thì dĩ nhiên chắc chắn sẽ nhiều người mong muốn được làm bạn đời nhưng cô Tư chưa dám nghĩ đến. Bởi vì một nguyên nhân duy nhất là mẹ thì già và các em còn nhỏ dại mà thôi.

Tiếng lành đồn xa, cô thôn nữ Nguyễn thị Gành được một gia đình quyền quý bậc nhất nhì ở Đất Đỏ ghé mắt để ý đến. Đó là gia đình ông Bang Biện Mai văn Thành (truyện Một người con gái Đất Đỏ – cùng tác giả ).

Cũng nên nhắc lại một chút về hương chức ngày xưa trong thời kỳ thuộc địa, chủ quận do một người Pháp cai trị và người đứng thứ nhì phải là người Việt để cho dễ điều hành. Đó chính là quan Tham Biện tương đương với phó quận hành chính ngày nay.

Có nghĩa là trong thời kỳ Quân chủ nhà Nguyễn, chủ quận còn gọi là Tri huyện hàm bát phẩm. Bang Biện được kêu là Huyện thừa hàm cửu phẩm vậy.

Dưới Bang Biện là Cai tổng hay Chánh tổng; giữ một vai trò chuyển tiếp truyền đạt những chỉ thị của chủ quận hay phó quận đến các hương chức trong xã. Rồi từ đó bắt buộc dân chúng thi hành.

Cô Tư Gành đẹp người đẹp nết, không những là tay hòm chìa khóa cho cả gia đình trong công việc chữa bệnh bằng thuốc nam; cô còn thông thạo đồng áng, gặt cấy, làm nương làm rẫy.

Khi nghe tin ông bà Bang Biện đánh tiếng rước mình về làm dâu. Chú rể là anh Năm Mai văn Tây; một trong 3 người con trai được quan Bang Biện thương yêu nhiều nhất. Bởi vì anh Năm là người có ăn học, biết chữ nho, chữ quốc ngữ và nói năng phong nhã. Cho nên ông bà Bang Biện Thành đặt tất cả kỳ vọng vào người con trai này.

Không như những cô gái quê bình thường mà đắc chí toại nguyện được nương nhờ trong một gia đình quyền quý, cô Tư Gành bằng lòng với một điều kiện:

– Vẫn tới lui chăm sóc mẹ già và tự tay nuôi nấng hai đứa em gái, gầy dựng gả chồng, làm tròn bổn phận làm con làm chị.

Cô Tư về nhà chồng sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất chấm dứt đã nhiều năm, các phong trào dân tộc dân chủ bùng dậy đã làm ảnh hưởng đến tư tưởng của anh Năm Mai văn Tây và từ đó khiến cho ông Bang Biện có ý định từ quan cáo lão về hưu.

Việt Nam là thuộc địa của Pháp, mà sự tàn phá của chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã làm cho nước Pháp bị thiệt hại nặng nề. Để bù đắp vào ngân sách xây dựng chỉ có một cách duy nhất là tăng thuế má, bóc lột dân thuộc địa mà thôi.

Từ đó đã xảy ra nhiều xung đột và các phong trào đấu tranh cùng những đảng phái chính trị bùng dậy khắp nơi.

Đứng giữa chính quyền thực dân và những người dân đen thấp cổ bé miệng, trước khi từ quan, ông Bang Biện Thành cố vận động người con trưởng và người con út được vào hương chức hội tề. Riêng anh Năm Mai văn Tây theo sát ông tập tành làm Xã trưởng để có cơ hội giúp đỡ, che chở phần nào cho dân Đất Đỏ.

Hai vợ chồng Xã Tây được chia bi phần đất giữa người anh và người em để cất nhà sinh sống lập nghiệp.

Cô thôn nữ Nguyễn thị Gành bây giờ không còn làm thầy thuốc nam nữa mà trở thành bà Xã Tây, được mọi người ưu ái kính trọng. Lại nhờ ở gần nhà ông lương y Thầy Ba Hùng nên may mắn là vợ Thầy Ba chỉ điểm thêm nhiều về kiến thức y học cổ truyền thuốc nam và thuốc bắc.

Tâm nguyện trước khi về nhà chồng của bà Xã Tây đã như ý muốn.

Bà đã thay mặt mẹ của mình mà tìm nơi xứng đáng để hai em gái nương nhờ. Qua sự quen biết của bên chồng, người em thứ chín được gả lên xã Long Tân, một điền chủ là cháu họ của ông Tỉnh trưởng Bà Rịa thời đó ông Lê đình Tường.

Người em gái thứ mười kết hôn với một trung sĩ thông dịch viên tiếng Pháp (truyện Cậu Ba Châu người con xứ Đất Đỏ – cùng tác giả).

Bà Xã Tây sống an lành hạnh phúc bên chồng con, hằng ngày ngoài việc đồng áng bà chỉ vun sới mãnh vườn quanh nhà. Hầu hết các loại cây cỏ thuốc nam mà bà đã biết, đều được chăm sóc kỹ lưỡng.

Có nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy bà trồng cây chuối hột?

Chuối hột là một loại chuối rừng, vị chát và đắng, trái nhiều hột nhưng ít người biết rằng công dụng thuốc quý từ cây chuối hột này. Có thể chữa trị các bệnh như: Kiết lỵ, đau bụng, lợi tiểu, an thai cho phụ nữ…

Mặc dù không còn đi bốc thuốc trị bệnh như thời còn con gái, nhưng nếu có người đến tận nhà nhờ vã thì bà rất sẵn lòng và hết tâm cứu giúp.

Bà Xã Tây chuyên về lãnh vực chữa bệnh cho con nít và đàn bà.

Con nít đổ ban nóng lạnh, ho hay lên cơn động kinh, bà dùng thuốc màu đen, một loại thuốc rơ miệng bằng những dược liệu pha trộn giữa thuốc nam và thuốc bắc được đâm nghiền nát. Rồi lấy ngón tay đem chất đàm, chất dơ từ cổ họng đứa con nít ra ngoài. Sau đó bồi dưỡng bằng những viên thuốc bổ ướp chút mật ong mà bà gọi là thuốc tể.

Còn với người lớn, mà đại đa số là đàn bà thường đến nhà nhờ bà trị bệnh. Bà dùng phương pháp cắt lễ như đã nói ở phần trên. Đối với những bệnh nhân đau nhức cấp tính, trúng phong, giật méo miệng, bế tắc đường sữa cho con, các chứng rối loạn thần kinh thực vật như trúng gió, đau bụng, tay chân lạnh…, bà dùng hai đầu ngón tay véo da lên; chỗ những huyệt đạo tuỳ theo chứng bệnh mà bà đã biết, rồi lấy vật mẫu bén nhọn đâm vào hay rạch một đường, cuối cùng nặn thật mạnh để loại bỏ máu độc trong cơ thể, giúp khí huyết điều hòa trở lại bình thường. Đôi khi thay vì nặn máu ra, bà dùng lọ chai còn được gọi là ống giác hơi, đốt nóng rồi chụp lên chỗ vừa bị cắt.

Hoặc dùng lưỡi búng bằng kim loại nhọn, được đặt vào những huyệt đạo hay đường chỉ máu ở tay hoặc chân. Búng thật mạnh ở nơi có máu độc ứ đọng, khi rút lưỡi búng, máu sẽ tự động thoát ra ngoài.

Thủ thuật trị bệnh của bà giúp điều hòa khí huyết của con người, làm giảm đau hạ nhiệt khi sốt và nhất là loại bớt độc tố trong cơ thể. Cho nên bà Xã Tây còn được kêu bằng một cái tên khác: Bà Năm cắt lễ.

Phần thứ hai: Sương phụ

Sau khi ông Mai văn Thành đệ đơn từ chức Bang Biện. Huyện lỵ Đất Đỏ đang nổi lên một người xã trưởng cũng gốc Phước Trung, cúc cung tận tụy cho chính quyền thực dân.

Trái ngược với Xã Tây; lúc nào cũng quan tâm vì lợi ích của dân quê miền thôn dã.

Ông Xã trưởng Phước long Thọ một mắt Nguyễn văn Tòng là người nhiều thủ đoạn, tàn nhẫn và ác ôn (mất năm 1966).

Khi Bang Biện Thành còn tại chức, Xã Tòng hơi kiêng dè đôi chút. Đến lúc nhận thấy chức Bang Biện và Cai Tổng chưa được xếp đặt mà địch thủ đáng gờm chính là Xã Tây. Đúng vào thời điểm những phong trào yêu nước nổi lên khắp nơi mà điển hình là lực lượng Thanh niên Tiền phong của Mặt trận Việt Minh đang rầm rộ phát triển.

Xã Tòng nhờ công lao đàn áp, bắt bớ chỉ điểm nên được chỉ định lên làm Cai Tổng trước khi thế chiến thứ hai bùng dậy. Và cái tên Cai Tổng Tòng gắn liền với huyền thoại Võ thị Sáu bắt nguồn từ đó.

Xã Tây nối nghiệp cha ra sức bảo vệ dân nghèo, được dân thương mến bao nhiêu thì lại là cái gai trong mắt của Xã Tòng bấy nhiêu.

Nhận thấy Đế quốc Nhật Bản xúc tiến từng bước kiểm soát đất nước Việt Nam mà quân đội Pháp lại bất lực trước tham vọng này. Ông Mai văn Tây bèn xin thôi không làm Xã trưởng. Ông bỏ tất cả trở về làm một nhà nông bình thường, mặc dù chính quyền quận Đất Đỏ không chấp thuận, nhiều lần đến nhà cố khuyên ông thay đổi ý định.

Trước khi chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, đích thân Cai Tổng Tòng dẫn lính đến hâm dọa rằng:

– Ông bỏ việc làng xã để đi theo tụi phản động Việt Minh phải không?

Rồi quân đội Nhật đảo chính, dân quê Đất Đỏ sống giữa hai gọng kềm cùng một thời gian dài của Pháp và Nhật. Người con thứ ba của ông Năm Tây và bà Tư Gành là Mai văn Ban, nhờ thông minh sáng dạ nên nhiều hiến binh Nhật ưa thích và dạy tiếng Nhật. Ông trở thành một trong những thiếu niên biết tiếng Nhật bập bẹ đầu tiên của dân Đất Đỏ.

Quân đội Pháp củng cố lại thuộc địa sau khi Đế quốc Nhật đầu hàng đồng minh và ông Cai Tổng một mắt Nguyễn văn Tòng bắt đầu là mối đe dọa của dân quê thôn dã miền Đất Đỏ vậy.

Nghi ngờ người thân của ông Dương bạch Mai, một nhà cách mạng yêu nước theo chủ nghĩa Cộng Sản Trotsky đệ tứ, gốc ở xã Phước Hội - Đất Đỏ muốn liên lạc với Xã Tây. Cai tổng Tòng bèn âm mưu quyết định ra tay thủ tiêu.

Mùng một Tết năm 1946, để tránh những chúc mừng năm mới, từ sáng tinh mơ Xã Tây cùng người con trai thứ ba đã vào ruộng.

Cai Tổng Tòng biết được tin, vội đem theo khoảng 10 người lính bố ráp về phía ruộng Cống Dầu. Buổi trưa hôm ấy, khi hai cha con đang ngồi trong chòi ruộng nhìn ra đường, thấy Cai Tổng Tòng thấp thoáng từ xa, hai toán lính có súng trên tay tiến về phía ruộng của mình. Biết chuyện không lành sẽ xảy ra, Xã Tây cùng đứa con trai 16 tuổi nhảy vội ra chòi, băng tắt qua một đám ruộng bên cạnh.

Những bước chân dồn dập, tiếng kêu tiếng la vang dội:

– Việt Minh, Việt Minh. Đứng lại, đứng lại.

Rồi tiếng súng nổ rền.

Những viên đạn ghim vào người và thân hình ông gục ngã bên bờ ruộng.

Khi chiếc xe bò đem hai cha con ông về chợ quận thì thân xác ông đã lạnh, tim ngừng đập. Ông nhắm mắt xuôi tay bỏ lại trên cõi đời này một người vợ hiền và năm đứa con; ba trai hai gái.

Người con trai thứ ba bị thương nặng, vẫn còn thở, nên được đưa lên nhà thương tỉnh cứu cấp. Xe chạy xuống dốc An Nhứt thì bị hiến binh Nhật chận lại không cho đi tiếp. Một vài người lính Nhật nhận ra Ba Ban nên đem vào trại lính Nhật để điều trị và… mất tích luôn từ dạo ấy.

Chỉ trong một ngày, mà lại là ngày mùng một Tết. Tang thương vây kín đầu bà Xã Tây. Không bút mực nào diễn tả nỗi đau đớn tột cùng này. Chồng qua đời, con mất tích mà mãi cho đến nhiều năm sau, bà mới quyết định đem tấm hình độc nhất của đứa con trai thứ ba đặt lên bàn thờ.

Khi vết thương lòng bớt nguôi ngoai, bà soạn lại gánh thuốc nam, mưu sinh cuộc sống thay chồng tiếp tục chu toàn, để các con không hổ thẹn với dòng họ Mai của quê hương Đất Đỏ.

Thủ tiết thờ chồng, trong một hoàn cảnh khó khăn, giữa những biến chuyển của xã hội một dân tộc bị áp bức. Một nỗi cô đơn, những gánh nặng tâm lý và tinh thần dễ bị vỡ, mong manh như giọt sương buổi sáng.

Bà Sương phụ Nguyễn thị Gành; người phụ nữ bất hạnh của làng quê Đất Đỏ đè nén khổ đau, cố gắng mỗi ngày vai gánh thuốc dẫn con lên chợ kiếm từng đồng bạc mà nuôi năm đứa con cho đến ngày khôn lớn.

Phần thứ ba: Huyền thoại (1)

Hai từ huyền thoại, nó có vẻ như tưởng tượng, hư cấu. Ở những câu chuyện huyền thoại, thường được gắn liền với hai chữ truyền thuyết. Có nghĩa là câu chuyện chỉ được nghe kể bằng miệng mà thôi. Khó mà kiểm chứng. Sự thật tuỳ theo người cảm nhận.

Nhắc đến Đất Đỏ, mọi người đều hình dung ra một huyền thoại người con gái anh hùng lực lượng vũ trang mà phía bên cộng sản thường tôn vinh để được sánh ngang hàng với truyền thuyết Lê văn Tám vậy.

Bà Năm cắt lễ biết rành về Võ thị Sáu, từ ngày Thị Sáu còn nhỏ, đôi khi bà làm phước trị bệnh không lấy tiền nữa mà.

Đứa con gái thứ tư của bà học chung lớp tư bậc tiểu học cùng với chị của Thị Sáu.

Gánh hàng thuốc nam bà Năm ở chợ chỉ qua hai dãy là căn nhà ba má Thị Sáu. Ba làm nghề chở hàng mướn bằng xe ngựa, má bán bún trước hiên nhà. Thị Sáu phụ mang bún giao cho khách hàng trong chợ và dọn dẹp lặt vặt khi có người mướn hay cần sai bảo nhờ vả.

Thị Sáu chỉ học lớp đến lớp tư, thua chị của mình một lớp. Tánh tình hơi mang mang, nổi giận vô cớ nhưng nói chung là làm việc chăm chỉ, sạch sẽ. Nhìn bề ngoài thì niềm nở và lễ độ với người lớn tuổi. Chỉ có điều là nếu có người nào làm cho phật ý thì dù người đó là ông trời chi nữa, Thị Sáu vung tay chửi rủa bằng những danh từ đúng nghĩa dân hàng chợ.

Nói thì nói vậy, trong lòng bà Năm cắt lễ vẫn mang ơn của Thị Sáu.

Cái ơn thoát chết trong gang tấc.

Những chuyện Thị Sáu làm, như ném lựu đạn ám sát Cai tổng Tòng, thật sự bà không hề biết đến; đó là một huyền thoại!

Nhưng không thể nào bà quên được. Buổi trưa hôm ấy năm 1950, phiên chợ sau ngày Tết.

Thị Sáu mang một cái rổ có nhiều lá chuối chạy đến gánh hàng bà hối thúc:

– Dì Năm dọn đồ về nhà gấp, mau lên.

Bà đang phân vân thì tiếng gằn giận dữ ngay tai nghe rõ ràng:

– Dì muốn sống hay muốn chết.

Linh tính nhạy bén khi nhìn vào khuôn mặt của Thị Sáu, bà lật đật quẩy gánh lên vai chạy liền, bỏ cả mâm đồ cùng hai cái đòn không kịp lấy.

Vừa thoát ra phía ngoài, nương theo đường nhỏ về nhà. Bỗng một tiếng nổ vang dội, rồi tiếng khóc la nổi lên. Rất có nhiều người dân đi chợ bị thương và chết…

Nếu Thị Sáu không thương sót bà Năm cắt lễ thì làm gì có những hàng chữ này, hôm nay được hiện diện cho người đọc!

Có lẽ đây là câu chuyện cuối cùng mà tôi viết về quê hương Đất Đỏ. Bởi vì vẫn còn một niềm ấp ủ ở trong lòng, đó là hai sự kiện mà tôi chứng kiến có liên thông với nhau:

Một người giống hệt như chuyện của bà Võ thị Sáu; ném lựu đạn vào dân. Bị tù, đày ra Côn Đảo 16 năm. Trở về làm thường dân. Chết vì bệnh tật nghèo khổ.

Một người vỡ mộng vì lý tưởng cộng sản, ly khai lập nhóm phục quốc, vào rừng Xuyên Mộc – Láng Dài. Cầm cự khoảng hơn một năm thì tan rã.

Phần thứ tư: Chiến tranh và loạn lạc

Từ sau Hiệp định Genève, chia đôi đất nước năm 1954, Việt Nam được quốc tế công nhận làm hai quốc gia riêng biệt, cả hai đều có tiếng nói trong Liên Hiệp Quốc.

Theo đó, dọc chiều dài của sông Bến Hải, trên bản đồ là vĩ tuyến 17. Phía Bắc thuộc về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo chủ nghĩa Cộng sản. Phía Nam, ảnh hưởng Tây phương nên theo chế độ Quốc gia Tự do: Việt Nam Cộng hoà.

Dân chúng hai miền có quyền tự chọn lựa. Ai thích Cộng sản thì theo ghe tàu tập kết ra Bắc. Còn ai yêu chuộng Quốc gia Tự do xin đáp tàu há mồm xuôi Nam.

Thống kê trên truyền thông đã cho biết rằng:

Gần 2 triệu người bỏ quê hương miền Bắc để xuôi Nam. Và chỉ có khoảng một trăm ngàn cán bộ Việt Minh cùng một số gia đình mà sau này gọi là Việt Cộng về ba địa điểm tập trung để ra Bắc.

Một trong ba địa điểm tập kết, chỉ cách quận Đất Đỏ không đầy 30 cây số. Đó là khu biển Hàm Tân - Xuyên Mộc mà ngày nay được gọi là Hồ Tràm - Hồ Cốc.

Có thể nói rằng, Đất Đỏ chính là nơi giao tiếp giữa Cộng Sản và Quốc Gia.

Ngay tại vòng xoay trung tâm chợ, ngoại trừ hướng duy nhất từ tỉnh Bà Rịa là an toàn. Còn lại 3 hướng đều mất an ninh tuyệt đối. Đường thẳng chính là quốc lộ 23, đi về phía Xuyên Mộc bị đắp mô gài mìn thường xuyên.

Quẹo phải đi Long Hải - Phước Hải, phải ngang qua mật khu Minh Đạm nổi tiếng của Bà Rịa Vũng Tàu.

Nếu quẹo trái thì lại xuyên qua Long Tân, Long Phước, nơi có những đường hầm địa đạo giống như Củ Chi của Sài Gòn vậy.

Chiến tranh, bom đạn đã khiến cho bà Năm cắt lễ hay tên gọi khác là bà Tư không dám ngủ đêm ở nhà. Bà phải lên nhà con gái đầu lòng lấy chồng ở ngay chợ hay nhà thương quận; nơi người em gái út thứ mười làm việc để an toàn trú ngụ qua đêm.

Ngày xưa thời con gái, gánh thuốc nam phụ mẹ, nuôi nấng các em. Bây giờ gánh thuốc càng thêm nặng bởi vì bà vừa làm mẹ mà cũng vừa làm cha cố gắng cho các con công thành danh toại, không tủi hổ với bè bạn, bà con láng giềng.

Mẹ sinh con nhưng Trời sinh tính. Phải nói là bà Năm may mắn có một người con gái thứ tư giống tính của bà như một khuôn đúc vậy.

Cô Tư Tiềm mồ côi cha khi vừa 14 tuổi. Gia cảnh sa sút, cô bỏ học chữ mà phải học nghề may để bươn chải cùng mẹ theo truyền thống gia đình ngày xưa.

Có lẽ ảnh hưởng là con cháu nhà quan, khắp vùng Đất Đỏ ai cũng biết cô Tư Tiềm, một người con gái đẹp nhất nhì thời ấy. Nhiều người đến xin dạm hỏi, bà Năm chưa quyết định rõ ràng thì người em gái thứ chín ở Long Tân bèn chận nói:

– Con Tư đẹp người đẹp nết, phải tìm chỗ quyền quý cao sang mà gả, em biết tánh nó giống như chị. Ngày xưa, chị bằng lòng anh Năm cũng vì muốn lo cho em với con Mười. Hôm nay xin chị để em trả lại cái ơn của chị.

Bà Năm hỏi đùa:

– Mày tính làm mai, ăn đầu heo phải không?

Bà Chín cười cười vui vẻ:

– Số là như vầy nè chị, bà con phía bên chồng em, có một người mới đi Tây về. Đang ở trên tỉnh, để em dẫn xuống coi mắt nha chị.

Bà Năm ngạc nhiên:

– Đi du học bên Tây hả? Thôi đi, con Tư quê mùa học thấp, tao sợ không xứng đâu.

Bà Chín trả lời thẳng thắn:

– Nghe nói đi lính cho Pháp chứ không phải du học gì hết, hình như ở bên Tây 10 năm và chưa có vợ.

Bà Năm gật gù:

Ừ, bà con với chồng của mầy thì cũng là người đàng hoàng có ăn học. Bữa nào dẫn xuống, phải cho tao biết trước nghen…

(Truyện Ký sự của một người thường – Đi Tây).

Lương duyên thành tựu, cô Tư theo chồng về Sài Gòn lập nghiệp. Và cũng từ đó, phụ tay cùng mẹ già lo cho 3 đứa em trai.

Thời gian ấy, ngôi nhà của cô Tư đã là nơi trú chân trọ học của biết bao học sinh miền quê Đất Đỏ. (Truyện Một khối tình).

Người em thứ năm được học nghề thợ máy, tài xế, nhưng nhớ vợ thương con nên bỏ việc trở về quê làm ruộng. Bị bắt đi lính Địa phương quân và hy sinh năm 1970.

Người em thứ sáu thi đậu Tú tài, đăng vào binh chủng Không quân, chức vụ sau cùng là Thiếu Tá Phi đoàn phó trực thăng.

Người em Út, đang học Luật khoa, bị động viên, xin vào Võ bị Đà Lạt. Trước ngày 30 tháng tư là Trung úy Phó chi cảnh sát Xuân Lộc-Long Khánh.

Những năm chiến tranh, Đất Đỏ là vùng xôi đậu, oanh kích tự do. Ban ngày quân đội quốc gia kiểm soát nhưng ban đêm thì việt cộng xuất hiện về tuyên truyền và thu thuế.

Bà Năm cắt lễ đành ngậm ngùi bỏ nhà xa quê mà lên Sài Gòn lánh nạn. Lúc đầu dĩ nhiên sống cùng người con gái thứ tư, sau đó người con út được bổ nhiệm làm trong một tòa án nên hai mẹ con mướn nhà ở riêng, cho đến khi người con thứ sáu lấy vợ mua nhà miệt Phú Nhuận. Khi người con thuyên chuyển về Cần Thơ, bà dọn vào chăm sóc nhà cửa cho đến ngày cờ đỏ rợp trời, kết thúc chiến tranh. Hoà bình thật sự trên đất nước Việt Nam.

Phần thứ năm: Tuổi già

“Nước Việt Nam Sự thật đã Hoà bình. Nhưng đất nước Việt Nam chưa Thái bình Thật sự.”

Vâng, quả đúng như vậy!

Khi vẫn còn nhiều người mặc sống chết bỏ nước ra đi. Nhân tài hao hụt bởi những câu sáo ngữ từng bước, từng bước vào trại tập trung cải tạo.

Trong thời chiến, hằng đêm bà vẫn thường cầu nguyện cho 3 đứa con trai, mong rằng tai qua nạn khỏi. Rồi một đứa hy sinh, bà lại thắp hương khấn vái để hai đứa con còn lại tránh khỏi lằn tên mũi đạn. Ngẫm nghĩ cuộc đời đã làm biết bao chuyện từ thiện, cứu giúp chữa bệnh cho dân nghèo không quản ngại tiền bạc công lao. Chủ ý là tích phước cho con và tuổi già thanh thản.

Cứ ngỡ rằng hai đứa con trai chỉ đi học tập vài tháng rồi về. Cả gia đình sẽ tập trung sống an phận làm ruộng làm nương cho qua ngày đoạn tháng.

Nỗi bức xúc tận cùng, bà tìm đến người cháu ruột gọi bằng cô mà hỏi:

– Mày theo Cộng sản mấy chục năm, thế có biết chừng nào thằng Sáu và thằng Út đi học tập về không?

Nguyễn văn Xinh; người cháu đã thoát ly tập kết ra Bắc từ nhỏ, từng là Đại uý trinh sát đặc công.

Năm Xinh đứng dậy, khép lại cánh cửa rồi trả lời bằng những tiếng thầm thì vào tai bà từng chữ rõ ràng:

– Cô ơi, bốn chữ học tập cải tạo chỉ là sáo ngữ mà thôi. Đó là một cái án tù không biết khi nào được trả tự do. Chỉ tuỳ thuộc vào bản thân của người bị án, nếu đánh giá tốt thì về sớm còn bằng xấu, chỉ trời mới biết được. Nhất là cái án tù này do một mảnh giấy của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ký quyết định, mà cái Mặt trận này đã không còn tồn tại, thế thì quy định ngày về nó lơ lửng cho số phận của từng người vậy thôi.

Vợ và 4 cháu nội của người con thứ sáu trở về quê Long Tân âm thầm lay lất bên giồng khoai luống bắp. Hai đứa cháu cùng con dâu út cũng mướn nhà ở Bà Rịa để gần gũi với bà.

Nào ngờ thời gian cứ miệt mài thăm thẳm. Nhìn đàn cháu không có cha bên cạnh, bà chạnh lòng nhớ lại hoàn cảnh của mình khi xưa.

Ngày xưa phụ mẹ nuôi em
Thuốc nam, cắt lễ nuôi con thay chồng
Nhớ con, nhìn cháu đau lòng
Cũng nghề cũ kiếm từng đồng xớt chia.

Một lần nữa, gánh thuốc nam được trang hoàng trở lại, một lần nữa hai thúng thuốc nặng trĩu trên chiếc lưng còng. Mỗi buổi chiều, trước khi tan chợ, bà xếp lại gánh hàng thuốc. Kiếm mua vội vàng những nhu yếu phẩm cần thiết trong ngày như gạo, cá… Rồi chia ra làm 3 phần riêng biệt cho 3 gia đình. Một niềm hạnh phúc sung sướng trên khuôn mặt nở nụ cười hiền của bà, khi thấy nét mừng rỡ hân hoan của các cháu chờ chực, mà đón nhận thực phẩm cho một ngày mai…

Ngày qua tháng lại, tám năm mòn mỏi đợi chờ rồi cũng có ngày xum họp.

Trong cùng một năm, cậu con Út được về trước và vài tháng sau đứa con thứ sáu cũng được trả tự do.

Nhưng đời sống đã khó khăn, bây giờ lại còn chật vật nhiều hơn nữa. Ông Trung uý cảnh sát bắt đầu làm lại cuộc đời bằng nghề hớt tóc dạo, so ra cũng đỡ khốn khổ hơn anh của mình. Ông Thiếu tá bỏ nghề lái trực thăng mà phải tự mình thay thế con trâu, con bò cố kéo chiếc lưỡi cày trên những thửa ruộng, luống khoai.

Cuối cùng, không cam tâm bởi vì ngày xưa đã đi sai một nước cờ. Cả hai âm thầm tìm cách vượt biên bằng đường biển, mặc dù lúc ấy đã có tin phong phanh là chính quyền Mỹ sẽ điều đình cho những tù cải tạo được định cư tại Mỹ.

Hai đứa con trai đã xum họp rồi lại ra đi. Ở quê nhà bà Năm ngày càng già yếu. Người con gái thứ tư vội đưa lên Sài Gòn, nơi nhiều phương tiện chăm sóc cho một người đã gần 90 tuổi.

Tuổi già viết lại cuộc đời
Mai sau con cháu còn lời nhớ chăng
Tưởng nhớ quá khứ buồn thầm
Nỗi lòng ray rức lệ tràn khóe mi
Xum họp rồi cũng biệt ly
Chia tay kẻ ở người đi ngậm ngùi
Thương yêu cay đắng ngọt bùi
Chìm trong dĩ vãng tan mùi lợi danh
Hoa nở rồi cũng tàn nhanh
Mưa rơi cũng tạnh, vòng quanh cuộc đời
Gió im lặng cuối chân trời
Vạn vật tan biến vào nơi vô thường
Luật nhân quả, sống thiện lương
Đất trời vũ trụ âm dương tuần hoàn.

Phần kết: Bác sĩ của dân nghèo

Hơn 10 năm lên Sài Gòn sống cùng người con gái thứ tư. Những năm đầu nhờ đứa cháu ngoại thường xuyên chu cấp cho gia đình, bà Năm cũng được an nhàn vui cùng con cháu.

Khi hai người con trai ổn định ở xứ người, hằng năm gởi tiền tiếp tế quà cáp đều đặn. Bà con dưới quê lên thăm, ai ai cũng khen ngợi nhờ đức tính thương người, nên bà hưởng phước.

Thật đúng với câu: Ở hiền gặp lành, đã xuất phát từ cái tâm lương thiện của bà, khi giúp người bà không bao giờ nghĩ gì về công ơn báo đáp.

Gieo nhân tốt thì sẽ gặp được trái ngọt. Cho nên gia đình năm người con ba trai hai gái của bà, tất cả đều có người ra nước ngoài, và rất nhiều đứa cháu được thành đạt.

Càng về già, phong thái của bà rất đẹp lão, cốt cách phương phi, tinh thần tráng kiện. Hình như bà không có một bệnh tật nào cả. Nhớ đủ mọi chuyện từ ngày xưa kể lại rõ ràng, dạy dỗ các cháu những điều hay lẽ phải.

Bà rất thích ăn ngon mặc đẹp, có bao nhiêu tiền trong túi bà thường lấy ra cho người nghèo khổ khó khăn.

Trước Tết năm 2004, nhận thấy bà hay mất ngủ, lại đem những chuyện ngày xưa khi còn con gái hay lúc lấy chồng về làm dâu nhà ông Bang Biện, kể đi kể lại. Người con gái thứ tư vội đưa vào nhà thương để kiểm tra sức khoẻ, cùng một lúc gọi điện thoại cho hai người con trai của bà ở Mỹ và người cháu ngoại bên Hoà Lan về gấp.

Đó là lần cuối cùng bà nhìn lại những người thân thương trong căn nhà của người con gái thứ tư. Bà thanh thản nhẹ nhàng mỉm cười ra đi mãi mãi.

Đám tang của bà rất lớn. Hầu như tất cả bà con, người quen ở dưới quê hương Đất Đỏ đều lên chia buồn.

Điều đặc biệt là ngay buổi chiều đầu tiên, một đoàn xe dừng trước nhà. Một sư bà bước xuống theo sau là khoảng gần 10 sư cô tiến vào. Tiếng lao xao nổi lên:

– Chùa Tịnh xá Ngọc Phương, sư Hàn phó trụ trì đó.

Tịnh xá Ngọc Phương là ngôi chùa nổi tiếng ở Sài Gòn - Gia Định, không thua gì ngôi chùa bên cạnh, chùa Già Lam. Bởi vì đây là ngôi chùa dám đứng lên đấu tranh với chính quyền cũ do một người trong chùa là Ni sư Huỳnh Liên cầm đầu phong trào xuống đường yêu cầu chấm dứt chiến tranh.

Sư bà Liên Hàn thay áo tràng rồi tụng niệm cho bà Năm, nhiều tiếng thì thầm lại nổi lên:

– Bà cụ tốt phước quá, thọ tới 103 tuổi, được chính sư bà Hàn tụng kinh siêu độ.

Sau lễ tụng, Sư bà Liên Hàn đã giảng dạy những đức tính tốt, tấm lòng thương người của bà. Bà từng nuôi nhiều cháu nhỏ mồ côi, người già neo đơn, cứu nhiều bệnh nhân mà đại đa số là dân nghèo. Và ngay chính bản thân Sư bà Liên Hàn là bằng chứng cụ thể :

– Ngày xưa ngoại là bác sĩ của dân nghèo ở Đất Đỏ, hồi đó sư bà cũng nhờ người mà mới sống cho đến ngày nay.

NGOẠI.

Ngày xưa cổ tích đọc nhiều
Nhớ ngày dong duỗi thả diều sớm trưa
Tuổi thơ êm ả võng đưa
À ơi tiếng Ngoại, ngày xưa vọng về
Ngoại!
Ngày cũ miền quê Đất Đỏ
Dù loạn ly chịu khó tảo tần
Thuốc Nam nặng gánh, một lòng
Nuôi con khôn lớn tiến thân với đời
Nào ai biết một thời son trẻ
Cũng hoa nhường nguyệt thẹn giỏi giang
Ông quan phó quận cao sang
Chọn làm dâu thảo vẻ vang má hồng
Cùng ông Ngoại chung lòng vun sới
Ruộng, vườn, nhà mái ngói âm dương
Thấy dân thấp cổ ông thương
Vươn tay góp sức rộng đường dân oan
Cũng vì dân nên ông kết oán
Cai tổng Tòng tính toán mưu sâu
Việc quan ông khất từ lâu
Ra tay sát hại ngày đầu Xuân sang
Xuân năm ấy quá phũ phàng
Một ngày hai chiếc khăn tang trên người
Còn chi đau khổ ai ơi!
Tang thương phủ kín bờ môi khô cằn
Rồi từ đó Ngoại tôi lam lũ
Năm tháng dần ấp ủ trôi qua
Vừa làm mẹ, lại thay cha
Sớm khuya một gánh vai oằn nỗi đau
Hai con lớn cùng nhau chăm sóc
Giúp đàn em ăn học nên người
Cho nên tâm Ngoại thảnh thơi
Thuốc Nam Ngoại giúp người đời ngợi ca
Là Bác sĩ dân nghèo Đất Đỏ
Đó là lời tường tỏ sư bà (2)
– “Ngày xưa Đất Đỏ quê tôi
Ai ai cũng biết tiếng người bình dân
Ngày xưa y tế khó khăn
Bà Năm cắt lễ rạng danh dân nghèo”
Những lần thăm hỏi ví von
Ngoại là Bác sĩ của con đây rồi.
Chiến tranh đến khắp nơi tang tóc
Ba cậu đành khoác áo chiến binh
Nhưng rồi một cậu hy sinh
Gởi đàn con dại nghĩa tình xót xa
Gánh thuốc nặng lòng bà thêm nặng
Đôi vai gầy rám nắng sớm trưa
Lần theo thúng nặng đong đưa
Khẩn cầu ban phước an lành hai con
Rồi cứ thế dòng đời trôi nổi
Đến một ngày thay đổi giang san
Cờ sao đỏ phủ cờ vàng
Là ngày hai cậu theo đàn tù nhân
Hàm Tân tủi nhục vô ngần
Sơn La - Yên Bái chết dần tuổi xanh
Tám năm dài mong manh Ngoại sống
Cũng thuốc Nam Ngoại gánh trên vai
Lưng còng tóc đã đổi thay
Muối tiêu hoá bạc thân gầy vì con
Thêm đàn cháu mỏi mòn cơ cực
Mỗi buổi chiều ruột đứt từng cơn
Ba phần chia xớt cá cơm
Long Tân phần lớn vì còn trẻ thơ…
Thời gian theo nước cuốn trôi
Vô thường một kiếp cuộc đời Ngoại ơi!
Ước gì sống lại tuổi thơ
Để nghe lại tiếng à ơi ví dầu
Quê hương Đất Đỏ còn đâu!
Chỉ còn ký ức trong đầu mà thôi
Quê hương Đất Đỏ trên đồi
Giếng ba mươi thước chẳng con sông nào
“Muốn tắm mát thì lên ngọn sông đào
Muốn ăn sim chín hãy vào rừng xanh” (ca dao)
Kính hương hồn Ngoại an lành
Thì thầm con nguyện vĩnh hằng Ngoại ơi!…..

    

Hồ ngọc Danh

   

______

(1) Phụ truyện về huyền thoại (có thể sẽ viết).
(2) Sư Liên Hàn gốc Phước Sơn, Phó trụ trì Tịnh xá Ngọc Phương Sài Gòn.

 

 

 

Direct link: https://caidinh.com/trangluu1/vanhoaxahoi/vanhoa/bacsicuadanngheo.html


Cái Đình - 2025