Trần Giao Thủy


Đông Nam Á bắt đầu lựa chọn

Tại sao khu vực này đang nghiêng về Trung Hoa?

   <=== Deena So’Oteh

Hơn hầu hết những khu vực khác trên thế giới, Đông Nam Á đã rơi vào trung tâm của cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Hoa. Hầu hết những quốc gia lớn ở những vùng khác của Á châu đã có định hướng rõ ràng: Úc, Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan đều kiên định đứng trong phe của Mỹ; Ấn Độ dường như đang nghiêng về phía Mỹ, còn Pakistan thì ngả về phía Trung Hoa; những quốc gia Trung Á ngày càng thắt chặt quan hệ với Bắc Kinh. Nhưng phần lớn Đông Nam Á – khu vực với gần 700 triệu dân – vẫn còn là “vùng xám” chưa ngã ngũ. Cường quốc nào thành công trong việc thuyết phục được những quốc gia chủ chốt như Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam đứng về phía mình sẽ có nhiều cơ hội để đạt được mục tiêu chiến lược tại Á châu hơn.

Tuy nhiên, suốt nhiều thập niên qua, giới lãnh đạo Đông Nam Á luôn bác bỏ ý tưởng rằng họ phải lựa chọn. Ngay cả khi Bắc Kinh và Washington biến cuộc cạnh tranh giữ hai nước thành yếu tố chi phối chính trị toàn cầu, thì giới chức chính phủ trong khu vực vẫn đọc đi đọc lại “thần chú” rằng họ có thể làm bạn với tất cả. Dĩ nhiên, họ không mù quáng trước hiện thực địa chính trị đang thay đổi. Như Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long từng nói vào năm 2018:

“Tôi nghĩ rằng việc không phải chọn bên là điều rất đáng mong đợi, nhưng có thể sẽ đến lúc ASEAN phải chọn một bên. Tôi hy vọng điều đó không xẩy ra sớm.” - Lý Hiển Long

Đánh giá của thủ tướng họ Lý về tình thế tiến thoái lưỡng nan này phản ảnh quan điểm không chỉ của hầu hết những quốc gia Đông Nam Á mà còn của phần lớn thế giới. Nó thể hiện một sự hoang mang sâu sắc trước những đòi hỏi của cuộc cạnh tranh siêu cường đang bao trùm. Một quốc gia như Singapore, sau cùng, đã phát triển mạnh trong thời kỳ toàn cầu hóa, tự định hình mình là một trung tâm thương mại với cánh cửa rộng mở ra thế giới. Việt Nam – một chế độ độc tài cộng sản trên danh nghĩa – đã trở thành một trung tâm sản xuất toàn cầu quan trọng, kết nối với cả chuỗi cung ứng của Trung Hoa và phương Tây. những quốc gia quần đảo rộng lớn như Indonesia và Philippines, từng bị xung đột nội bộ tàn phá, đã tăng trưởng GDP một cách đáng kể kể từ năm 2000. Khi giới chức chính phủ ở Đông Nam Á phản bác ý tưởng rằng họ phải chọn phe, họ thực chất đang bày tỏ sự ưa chuộng trật tự thế giới có từ sau Chiến tranh Lạnh – một trật tự đặc trưng bằng sự liên kết kinh tế sâu sắc và sự suy giảm của những đối đầu địa chính trị.

Tuy nhiên, trật tự đó bắt đầu tan rã sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 - 2009. Hiện nay, Đông Nam Á đang ở giữa cuộc cạnh tranh của những cường quốc. Trung Hoa và Mỹ ngày càng xung đột gay gắt tại Á châu. Và dù muốn hay không, những quốc gia Đông Nam Á không còn miễn nhiễm với những áp lực đi cùng với sự cạnh tranh này. Khi phân tích lập trường của mười quốc gia Đông Nam Á trong hàng loạt vấn đề liên quan đến Trung Hoa và Mỹ, một điểm trở nên thật rõ ràng: trong 30 năm qua, nhiều quốc gia trong số này đã dần dần nhưng rõ rệt chuyển hướng khỏi Mỹ và nghiêng về phía Trung Hoa. Một số di chuyển nhanh và có ý nghĩa hơn những nước khác. Một vài quốc gia quả thực đã thành công trong việc “đi hàng đôi”, giữ thế cân bằng giữa hai siêu cường. Tuy nhiên, hướng đi chung thì rõ ràng: những quốc gia Đông Nam Á có thể khẳng định rằng họ đang giữ mình ngoài cuộc xung đột, nhưng chính sách của họ lại cho thấy điều ngược lại. Khu vực này đang trôi dần về phía Trung Hoa – một thực tế bất lợi cho những tham vọng của Mỹ tại Á châu.

Thế cờ chiến lược

Theo Chỉ số Quyền lực Á châu của Viện Lowy, đánh giá sức mạnh tương đối của những quốc gia dựa trên nhiều biến số – gồm cả năng lực kinh tế và quân sự, ảnh hưởng ngoại giao và văn hóa – thì đến cuối những năm 2010, tổng hợp sức mạnh của Trung Hoa đã đạt gần 90% so với Mỹ. Điều này là kết quả từ sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của Trung Hoa kể từ những năm 1980 và cách Bắc Kinh biến những thành tựu kinh tế đó thành sức mạnh ngoại giao, quân sự, thậm chí văn hóa. Sự trỗi dậy của Trung Hoa đã khiến những học giả Mỹ vào thập niên 1990 tranh luận liệu Mỹ nên kiềm chế hay hợp tác với gã khổng lồ Á châu đang lên; và phe ủng hộ hợp tác đã chiến thắng một cách áp đảo. Dù những chính quyền Clinton và George W. Bush từng có những thời điểm căng thẳng với Trung Hoa, họ vẫn không xem nước này là một đối thủ. Những cuộc chiến ở Trung Đông sau vụ khủng bố 11/9 đã khiến Washington phân tâm, và mãi đến chính sách “xoay trục sang Á châu” dưới thời Obama, Mỹ mới chính thức công nhận thách thức tiềm tàng mà Trung Hoa đặt ra đối với quyền bá chủ của Mỹ tại lục địa này. Ngay cả khi đó, Obama và đội ngũ an ninh quốc gia của ông vẫn không coi Trung Hoa là đối thủ ngang hàng hay mối đe dọa an ninh quốc gia – phần lớn vì họ, giống như những người tiền nhiệm, cho rằng việc Trung Hoa hội nhập vào trật tự kinh tế do Mỹ dẫn đầu sẽ dần dần khiến nước này trở nên tự do hơn về chính trị.

Quan điểm đó đã thay đổi với việc Donald Trump đắc cử. Chính quyền Trump trong nhiệm kỳ đầu đã từ bỏ mọi kỳ vọng rằng Trung Hoa sẽ hòa nhập một cách ôn hòa vào trật tự quốc tế tự do, hay rằng họ sẽ chấp nhận đổi mới chính trị theo hướng tự do. Lập trường này càng được củng cố với tuyên bố của Trump rằng ông sẽ không để Trung Hoa “vượt mặt” Mỹ, từ đó làm thay đổi hoàn toàn chính sách của Washington. Hiện nay, Mỹ tin rằng một Trung Hoa ngày càng mạnh mẽ và độc đoán đang đặt ra mối đe dọa chiến lược đối với họ. Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2017, Chiến lược Quốc phòng năm 2018, cùng những tuyên bố chính sách khác liên quan đến Trung Hoa – gồm cả bài phát biểu của Phó Tổng thống Mike Pence tại Viện Hudson năm 2018 và của Ngoại trưởng Mike Pompeo tại Thư viện Tổng thống Richard Nixon năm 2020 – tất cả đều mô tả Trung Hoa là đối thủ địa chính trị nguy hiểm và có tiềm lực nhất của Mỹ. Đánh giá này vẫn hiện hữu sau thất bại của Trump trong cuộc bầu cử năm 2020 và sự lên nắm quyền của Tổng thống Joe Biden. Chính quyền Biden sử dụng ngôn ngữ ôn hòa hơn, nhưng cốt lõi chính sách vẫn không thay đổi: Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2022 của Biden tuyên bố rằng Trung Hoa là “thách thức địa chính trị hệ trọng nhất” đối với Mỹ, và là “đối thủ duy nhất vừa có ý định định hình lại trật tự quốc tế, vừa ngày càng có sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự và kỹ thuật để thực hiện điều đó.” Tuy nhiên, chính quyền Biden đã đi xa hơn chính quyền Trump ở một điểm: khéo léo tập hợp những đồng minh của Mỹ để cùng kiềm chế Trung Hoa, như một phần của “cuộc cạnh tranh toàn diện” trên mọi phương diện quyền lực.

Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Hoa có thể sẽ trở nên gay gắt hơn, phức tạp hơn, và nguy hiểm hơn cả cuộc đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh. Khác với Liên Xô – quốc gia tụt hậu về kinh tế so với Mỹ thời kỳ đó – Trung Hoa ngày nay là một đối thủ ngang tầm đáng gờm hơn nhiều. Và ở Á châu hiện có nhiều điểm nóng tiềm tàng, gồm cả bán đảo Đại Hàn, eo biển Đài Loan, và Biển Đông. Khi cuộc cạnh tranh này ngày càng leo thang, mỗi siêu cường sẽ muốn lôi kéo càng nhiều quốc gia về phe mình càng tốt.

Đông Nam Á – một khu vực đông dân và đang ngày càng có ảnh hưởng về kinh tế, nhưng thường chỉ nhận được sự quan tâm thất thường từ những thủ đô phương Tây – sẽ là một chiến trường chính trong cuộc cạnh tranh này. Với một số quốc gia trong khu vực – đặc biệt là những nước như Philippines, vốn có hiệp ước liên minh hoặc quan hệ an ninh chặt chẽ với Mỹ – thì ranh giới đã được vạch rõ. Họ muốn duy trì mối quan hệ gần gũi với Washington với niềm tin rằng việc Mỹ đưa sức mạnh quân sự vào khu vực sẽ mang lại hòa bình và ổn định. những quốc gia Đông Nam Á từng đứng về phía Mỹ trong Chiến tranh Lạnh như Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan nhìn chung đã phát triển nhờ vào những nguồn đầu tư và thị trường; trong khi những nước chọn phe Liên Xô hoặc Trung Hoa – như Việt Nam – lại tăng trưởng chậm hơn nhiều. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, rõ ràng Liên Xô không thể sánh với phương Tây về mặt kinh tế. Ngày nay, tuy nhiên, nhiều người Đông Nam Á tin rằng Trung Hoa hoàn toàn có thể cạnh tranh sòng phẳng với Mỹ.

Việc nhiều quốc gia chưa chọn hẳn giữa Bắc Kinh và Washington muốn “không phải chọn” cũng không có gì đáng ngạc nhiên; họ muốn “vừa ăn bánh, vừa còn bánh”. Quan điểm thông thường (dù quá đơn giản) là những nước Đông Nam Á tìm đến Mỹ để được bảo đảm an ninh, còn Trung Hoa là nguồn cung thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Nhưng cả Trung Hoa và Mỹ đều ngày càng thất vọng với chiến lược “đi hàn hai” này. Bắc Kinh muốn có ảnh hưởng không chỉ về kinh tế trong khu vực. Trong khi đó, chính quyền Trump nhiệm kỳ hai muốn củng cố quan hệ kinh tế và thương mại với Đông Nam Á, một phần nhằm lấy “tiền bảo kê” an ninh mà Mỹ đang xây dựng tại Á châu.

Một số liên minh ngoại giao quan trọng nhất trong khu vực Đông Nam Á vẫn chưa được định hình rõ. ASEAN – hiệp hội gồm 10 quốc gia trong khu vực – không có một lập trường chung về hai siêu cường, do lợi ích quốc gia của những thành viên rất đa dạng. Trên thực tế, những bất đồng liên quan đến quan hệ với Trung Hoa và Mỹ đã từng làm lung lay sự đoàn kết của ASEAN trong quá khứ và sẽ tiếp tục là thách thức trong tương lai. Để hiểu rõ hơn hướng đi của khu vực, việc xem xét lập trường của từng quốc gia ASEAN dựa trên chính sách cụ thể sẽ mang lại cái nhìn chính xác hơn.

Thay đổi liên minh địa chính trị

Để hiểu rõ định hướng của những nước ASEAN, chúng tôi đã phân tích năm lãnh vực tương tác giữa những quốc gia này với Trung Hoa và Mỹ: quan hệ chính trị-ngoại giao, hợp tác quân sự-an ninh, quan hệ kinh tế, mức độ tương đồng văn hóa-chính trị (hay “sức mạnh mềm”), và thông điệp đối ngoại (cách những quốc gia truyền đạt công khai lập trường). Mỗi lãnh vực gồm bốn chỉ số, tổng cộng là 20, thước đo về mức độ định hướng. Ví dụ, ở lãnh vực chính trị-ngoại giao, chúng tôi thu thập dữ liệu về sự tương đồng trong những cuộc bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc, mức độ hợp tác song phương, số chuyến thăm cấp cao, và việc tham gia những tổ chức đa phương. Về mặt kinh tế, chúng tôi xem xét kim ngạch nhập cảng, xuất cảng, số hội doanh nghiệp và mức nợ nước ngoài. Việc tổng hợp những chỉ số này cho phép chúng tôi xác định một điểm số duy nhất cho mỗi quốc gia. Điểm 0 định hướng hoàn toàn về phía Trung Hoa; điểm 100 định hướng hoàn toàn về phía Mỹ. Theo tiêu chuẩn này, những quốc gia có điểm từ 45 đến 55 được coi là “đi hai hàng” thành công – giữ thế cân bằng giữa hai siêu cường.

Chỉ số này, được chúng tôi đặt tên là “Chỉ số Căn nguyên của Lựa chọn Liên kết” (The Anatomy of Choice Alignment Index), đưa ra hai kết quả chính. Thứ nhất, khi những quốc gia Đông Nam Á nói rằng họ không muốn chọn giữa Trung Hoa và Mỹ, điều đó không có nghĩa là tất cả đều trung lập. Dựa trên mức độ định hướng trung bình trong 30 năm qua, chúng tôi thấy rằng bốn quốc gia – Indonesia (49), Malaysia (47), Singapore (48), và Thái Lan (45) – có thể xem là những nước “đi hàng hai” thành công, nỗ lực giữ thế cân bằng. những quốc gia ASEAN còn lại nghiêng hẳn về một siêu cường. Philippines (60) rõ ràng đứng về phía Mỹ, trong khi Myanmar (24), Lào (29), Campuchia (38), Việt Nam (43), và Brunei (44) đều nghiêng về Trung Hoa.

Thứ hai, khi phân tách giai đoạn 30 năm thành hai khoảng thời gian 15 năm, một bức tranh năng động hơn hiện lên – theo hướng có lợi cho Bắc Kinh. Ví dụ, điểm định hướng của Indonesia trong giai đoạn đầu (1995 - 2009) là 56, nhưng trong giai đoạn sau (2010 - 2024) chỉ còn 43 – tức giảm 13 điểm nghiêng về phía Trung Hoa. Quốc gia này đã chuyển từ vị thế nghiêng nhẹ về Mỹ sang nghiêng nhẹ về Trung Hoa. Cho đến năm 2009, Thái Lan vẫn là một quốc gia “đi hàng hai” khá vững (49), nhưng kể từ đó đã nghiêng về phía Trung Hoa (41). Philippines – đồng minh có hiệp ước với Mỹ – cũng đã tiến gần hơn một chút với Trung Hoa, dù vẫn đứng trong phe Mỹ; điểm số giảm từ 62 xuống 58. Malaysia (từ 49 xuống 46) và Singapore (từ 50 xuống 45) cũng chuyển nhẹ dần về phía Trung Hoa, nhưng vẫn nằm trong nhóm đi hai hàng. Campuchia (từ 42 xuống 34), Lào (từ 33 xuống 25), và Myanmar (từ 24 xuống 23) tiếp tục trôi dạt về phía láng giềng phương Bắc, đồng thời củng cố sự định hướng về phía Trung Hoa. Quốc gia duy nhất trong 30 năm qua có xu hướng rời xa Trung Hoa và nghiêng về phía Mỹ là Việt Nam, dù sự thay đổi không lớn (từ 41 lên 45). những dữ liệu gần đây cho thấy Việt Nam đang trên đà gia nhập nhóm “đi hai hàng” như Malaysia và Singapore, giữ vị thế cân bằng giữa hai siêu cường.

Đẩy và Kéo

Sự di chuyển của Đông Nam Á về phía Trung Hoa không phải do một lực lượng đơn lẻ nào mà là sự kết hợp của nhiều yếu tố, gồm cả nhu cầu chính trị trong nước của những chính phủ Đông Nam Á, nhận thức về những cơ hội kinh tế và sức bền của Mỹ, cũng như địa lý. Chính trị trong nước có thể đóng vai trò quyết định. Campuchia là một ví dụ điển hình. Cuộc đảo chính năm 1997 cuối cùng đã đưa nguòi lãnh đạo của đất nước, Hun Sen, lên nắm quyền đã thúc đẩy sự suy giảm nghiêm trọng trong quan hệ Mỹ-Campuchia và cải tiến quan hệ Trung Hoa-Campuchia. Mỹ đã ngưng viện trợ và áp đặt lệnh cấm vận vũ khí đối với Campuchia sau cuộc đảo chính, mà họ lên án là làm suy yếu nền dân chủ. Vào những năm 2010, Mỹ cũng lên án hồ sơ nhân quyền và tham nhũng kém của Campuchia. Vì sự nêu tên và chỉ trích này, chế độ Hun Sen đã coi Washington là mối đe dọa đối với an ninh của họ. Không có gì ngạc nhiên khi Campuchia chọn liên kết chặt chẽ hơn với Trung Hoa, nơi mà họ nhận được vô số hình thức hỗ trợ và ít bị chỉ trích. Bắc Kinh cung cấp cho Phnom Penh khoản đầu tư nước ngoài đáng kể, hỗ trợ chính trị và viện trợ quân sự; nó cũng không tìm cách làm suy yếu tính hợp pháp của chế độ.

Nhiều chính phủ trong khu vực lấy tính hợp pháp từ khả năng mang lại hiệu quả kinh tế mạnh mẽ của họ. Điều này cũng đã hỗ trợ Trung Hoa, quốc gia đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN. những chế độ phi dân chủ ở ASEAN tin rằng Trung Hoa sẽ hỗ trợ tốt nhất cho nhu cầu kinh tế và mong muốn bảo đảm tính hợp pháp về mặt chính trị của họ. Khi nói đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, Trung Hoa tụt hậu so với Mỹ trong khu vực, nhưng họ đang nhanh chóng bắt kịp ở một số quốc gia qua Sáng kiến ​​​Một Vành đai Một Con đường, ​​đã tài trợ cho những dự án cơ sở hạ tầng lớn trên toàn thế giới.

Những khoản đầu tư như vậy đã buộc nhiều quốc gia phải sửa đổi cách nhìn nhận truyền thống của họ về thế giới. Ví dụ, quân đội Indonesia đã nghi ngờ Trung Hoa và thông cảm với Mỹ trong Chiến tranh Lạnh, một hành động chứng minh rõ ràng nhất bằng những vụ thảm sát hàng loạt người Hoa và những người được cho là có cảm tình với cộng sản vào những năm 1960. Nhưng trong những thập niên gần đây, những nhóm tinh hoa chính trị và doanh nghiệp mới đã thành công trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự ủng hộ tăng trưởng. Họ coi Trung Hoa là nguồn cơ hội kinh tế, không phải là nguồn đe dọa về mặt ý thức hệ. Và họ đã định hướng Indonesia theo hướng của Trung Hoa bằng cách hoan nghênh những khoản đầu tư của Trung Hoa, tiến hành những chuyến thăm cao cấp –vào năm 2024, chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng thống mới đắc cử Prabowo Subianto là tới Trung Hoa, và vào tháng 5 năm 2025, Thủ tướng Trung Hoa Lý Cường đã đi thăm đáp lễ với Indonesia–tham gia những cuộc tập trận quân sự với Trung Hoa và tránh thông lệ chung là nhắm vào người Indonesia gốc Hoa làm vật tế thần cho những bất ổn kinh tế của Indonesia.

Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Sugiono và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Hoa Vương Nghị
tại Bắc Kinh, tháng 4 năm 2025. Iori Sagisawa / Reuters

Việc Trump trở lại Tòa Bạch Ốc đã gây thêm lo ngại về những cam kết quân sự và kinh tế của Mỹ đối với Đông Nam Á. Chính quyền Trump nhiệm kỳ hai dường như có ý định chuyển giao trách nhiệm về an ninh của Âu châu cho những chính phủ Âu châu. Chiến lược của chính quyền Mỹ liên quan đến Trung Hoa và Á châu nói chung vẫn chưa rõ ràng. Về mặt an ninh, chuyến thăm Philippines và Nhật Bản vào tháng 3 của Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth cho thấy Mỹ vẫn muốn củng cố những liên minh Á châu của mình, bắt đầu với hai trong số những đồng minh kiên định nhất của mình trong khu vực. Khi Philippines đấu đầu với Trung Hoa về những vùng lãnh thổ có tranh chấp trên biển, Hegseth tuyên bố rằng cam kết của Mỹ đối với Philippines là “vững như bàn thạch”. Nhưng Thái Lan, một đồng minh hiệp ước chính thức khác của Mỹ, không nằm trong lộ trình của Hegseth. Một cách ưng xử khôn ngoan hơn, dựa trên sự hiểu biết về sự trôi dạt của Thái Lan về hướng của Trung Hoa và lợi ích của Mỹ trong việc ngăn chặn sự trượt dốc đó, cũng sẽ đưa Hegseth đến Bangkok.

Những đối tác chiến lược khác của Mỹ cũng sẽ theo dõi chặt chẽ sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Đông Nam Á; họ sẽ phải hiệu chỉnh lại sự phụ thuộc về an ninh và hợp tác với Mỹ nếu họ kết luận rằng Washington có khả năng rút lui khỏi khu vực. Năm 2017, Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Hishammuddin Hussein đã lên tiếng lo ngại về những ám chỉ của chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu rằng họ có thể cắt giảm những cam kết ở nước ngoài của Mỹ. Ông hy vọng rằng Mỹ sẽ xét lại việc thu hẹp sự tham gia của Mỹ tại Á châu – Thái Bình Dương. Nếu không, ông tiếp tục, ASEAN phải chuẩn bị cho những trách nhiệm an ninh nặng nề hơn. Gần đây hơn, vào tháng 4 năm 2025, Thủ tướng Singapore Lawrence Wong đã lập luận rằng “trạng thái bình thường mới” sẽ là trạng thái mà “Mỹ đang lùi bước khỏi vai trò truyền thống là nước bảo đảm trật tự và cảnh sát của thế giới”. Tuy nhiên, không có quốc gia nào khác sẵn sàng lấp đầy khoảng trống này. “Kết quả là, thế giới đang phân mảnh và hỗn loạn hơn”. Niềm tin của Trump rằng việc thể hiện sức mạnh quân sự của Mỹ phục vụ cho những người được bảo vệ nhiều hơn là phục vụ cho Mỹ hnhư một số người ở Đông Nam Á lo ngại. Vào tháng 2, Ng Eng Hen, khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng Singapore, đã lưu ý rằng hình ảnh của Washington trong khu vực đã thay đổi từ “người giải phóng thành kẻ phá hoại lớn thành chủ đất tìm kiếm tiền thuê.” Như một chuyên gia ngoại giao cao cấp Đông Nam Á tại Washington đã nói nửa đùa nửa thật với một trong số chúng tôi sau thảm họa của chuyến thăm Tòa Bạch Ốc của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky vào tháng 2: “Ukraine có những khoáng sản quan trọng để cung cấp. Chúng ta có gì?”

Về mặt kinh tế, Trump đã áp đặt thuế “có đi có lại” cao đối với những nước Đông Nam Á vào đầu tháng 4. Mặc dù Mỹ đã tạm ngừng và tương lai của loại quan thuế vẫn chưa chắc chắn, Nhưng mối đe dọa đó hiện đang bao trùm lên những nền kinh tế của khu vực. Những nước Đông Nam Á không chỉ lo sợ mất đi đầu tư của Mỹ và thị trường Mỹ mà còn lo sợ Mỹ từ bỏ vai trò lãnh đạo kinh tế của họ – nhường lại vai trò lịch sử của Mỹ trong việc định hình cấu trúc kinh tế của khu vực cho những nước khác. Nếu rõ ràng là Mỹ đang tách khỏi khu vực về mặt kinh tế và quân sự, mười quốc gia ở khu vực này sẽ ngày càng phải dựa vào nhau và xây dựng quan hệ chặt chẽ hơn với Úc, Nhật Bản và Nam Hàn. Nhưng việc cấp thiết đó sẽ bị cân bằng, và thậm chí có thể bị lấn át, do sự cám dỗ hướng về Trung Hoa.

Ở mức căn bản, địa lý định hình những quyết định mà nhiều quốc gia này phải chọn lựa. Những quốc gia có chung đường biên giới với Trung Hoa, chẳng hạn như Lào, Myanmar và Việt Nam, sẽ cảm thấy sức hút hấp dẫn tự nhiên của Bắc Kinh. Chắc chắn, điều đó có thể điều chỉnh được băng những nghi ngờ hoặc thù địch trong lịch sử, như trường hợp của Việt Nam, quốc gia đã chống lại cuộc xâm lăng của Trung Hoa vào năm 1979. Nhưng sự gần gũi có thể buộc phải thỏa hiệp. Ở Myanmar, chính quyền quân sự lên nắm quyền sau cuộc đảo chính năm 2021 đã trở nên phụ thuộc vào Trung Hoa về hỗ trợ ngoại giao và thương mại, mặc dù họ biết rằng Bắc Kinh hỗ trợ những nhóm phiến quân vũ trang sắc tộc hoạt động ở những khu vực biên giới. Lào đã trở nên gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn của Trung Hoa để xây dựng những đập thủy điện dọc theo Sông Mekong trong biên giới của mình; những khoản vay cơ sở hạ tầng từ Trung Hoa hiện chiếm một nửa nợ nước ngoài mà quốc gia không giáp biển này phải gánh chịu. Địa lý cũng giúp giải thích tại sao Việt Nam thận trọng tiến gần hơn đến Mỹ. Mặc dù Washington công khai quan tâm đến việc nâng cấp quan hệ với Hà Nội lên mức “đối tác chiến lược toàn diện,” Việt Nam vẫn phản đối cho đến năm 2023, tức là 15 năm sau khi thiết lập mối quan hệ như vậy với Trung Hoa. Mỹ vẫn ở rất xa, bất kể mạng lưới căn cứ quân sự rộng lớn của họ. Và việc Mỹ rời đi có thể khiến họ ít có thể cam kết nguồn lực và nhân sự để bảo đảm hòa bình và ổn định ở Biển Đông, một trong những điểm nóng chính của khu vực, nếu có bất kỳ biến động nào xẩy ra.

Nhượng bộ

Mặc dù Đông Nam Á rõ ràng đang nghiêng về phía Trung Hoa, nhưng những mô hình liên kết không phải là bất di bất dịch. Những quốc gia đó có thể thay đổi định hướng khá nhanh chóng. Ví dụ, dưới thời Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo từ năm 2001 đến năm 2010, Philippines nghiêng về phía Trung Hoa. Người kế nhiệm bà, Benigno Aquino III, cầm quyền từ năm 2010 đến năm 2016, đã kéo đất nước trở lại với Mỹ. Rodrigo Duterte, người kế nhiệm Aquino, đã chuyển hướng sang Trung Hoa; người kế nhiệm ông, Ferdinand Marcos, Jr., đã chuyển hướng sang Mỹ.

Trong số những quốc gia Đông Nam Á có dân số đa số là người Hồi giáo, gồm cả Indonesia và Malaysia, sự tức giận về việc Washington ủng hộ cuộc chiến của Israel ở Gaza đã khiến những chính phủ này xa lánh Mỹ và nghi ngờ về việc Mỹ viện dẫn cái gọi là trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Một cuộc khảo sát năm 2024 của Viện ISEAS-Yusof Ishak cho thấy một nửa trong số gần 2.000 chuyên gia được thăm dò ý kiến ​​trên mười quốc gia Đông Nam Á – những người đến từ học viện, nhóm nghiên cứu, khu vực tư nhân, xã hội dân sự, phương tiện truyền thông, chính phủ và những tổ chức khu vực và quốc tế – đồng ý rằng ASEAN nên chọn Trung Hoa thay vì Mỹ; chỉ một năm trước đó, 61% những người được thăm dò đã ủng hộ Mỹ thay vì Trung Hoa.

Indonesia có thể đang mơ màng tiến gần hơn đến sự liên kết chặt chẽ hơn với Trung Hoa.

Nhiều chính phủ Đông Nam Á có thể không nhận ra rằng họ thực sự đang đứng về phe nào. Vì đang duy trì quan hệ với cả hai siêu cường, họ cho rằng chính sách đối ngoại của họ được cân nhắc và cân bằng kỹ lưỡng. Họ chọn theo yêu cầu từ những sản phẩm của Mỹ và Trung Hoa. Họ có thể ký vào Một Sáng kiến ​​Vành đai Một Con đường của Trung Hoa, Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Á châu, thỏa thuận thương mại tự do được gọi là Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực và Sáng kiến ​​Phát triển Toàn cầu và Sáng kiến ​​An ninh Toàn cầu của Bắc Kinh. Đồng thời, họ có thể tham gia vào Đối tác xuyên Thái Bình Dương do Mỹ lãnh đạo (nhưng hiện đã bị hủy bỏ) hoặc tham gia Khung Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vì Thịnh vượng gần đây hơn và những chương trình khác của Mỹ lập ra để chống lại Sáng kiến Một ​​Vành đai Một Con đường. Họ cũng chào đón những khoản đầu tư của khu vực tư nhân Mỹ bằng vòng tay rộng mở.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Đông Nam Á vượt qua đầu tư của Mỹ vào Trung Hoa, Nhật Bản và Nam Hàn cộng lại. Thông qua những lựa chọn như vậy, một quốc gia có thể đạt đến điểm tới hạn và kết thúc ở một phe nhiều hơn phe kia mà không nhận ra rằng mình đã vượt quá giới hạn. Ví dụ, Indonesia có thể đang mộng du để liên kết chặt chẽ hơn với Trung Hoa–không phải là kết quả của sự lựa chọn có ý thức, mạch lạc và chiến lược lớn mà là do sự tích tụ những lựa chọn của nước này (chẳng hạn như tham gia vào nhiều sáng kiến ​​đa phương của Trung Hoa) trong những lãnh vực khác nhau theo thời gian có thể khiến nước này nghiêng hẳn về phía Bắc Kinh.

Ngay cả khi Trung Hoa trỗi dậy và Mỹ thoái lui, người Đông Nam Á vẫn không muốn từ bỏ Washington. những cuộc thăm dò sau cuộc thăm dò cho thấy Đông Nam Á coi Trung Hoa là cường quốc kinh tế và chiến lược có ảnh hưởng nhất trong khu vực, vượt xa Mỹ với khoảng cách đáng kể. Nhưng người Đông Nam Á cũng có nhiều nghi ngại về cách Trung Hoa có thể khai triển sức mạnh đó. Theo cuộc thăm dò năm 2024 của Viện ISEAS-Yusof Ishak, khi được hỏi họ tin tưởng ai, giới tinh hoa từ nhiều lãnh vực khác nhau của xã hội xếp hạng Nhật Bản đứng đầu, Mỹ đứng thứ hai, Liên minh Âu châu đứng thứ ba và Trung Hoa đứng thứ tư. Nói cách khác, mặc dù Trung Hoa vẫn là một đối thủ dai dẳng và đáng gờm của Mỹ, và mặc dù phần lớn Đông Nam Á dường như đang hướng về Trung Hoa, Bắc Kinh vẫn còn nhiều việc phải làm để xoa dịu mối lo ngại và lấy được lòng tin của những quốc gia trong khu vực.

Chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai có thể khiến công việc của Bắc Kinh trở nên dễ dàng hơn nếu mức thuế khắc nghiệt “Ngày giải phóng”, 2 tháng 4, mà Mỹ áp đặt với những quốc gia ASEAN quan trọng, chẳng hạn như Indonesia, Malaysia và Việt Nam, không được giảm đáng kể; nếu giới chức chủ chốt của chính phủ Mỹ không tham dự những cuộc họp thường niên của ASEAN; và nếu họ hành động theo lời đe dọa áp đặt mức thuế 100% đối với những quốc gia đã tham gia (Indonesia) hoặc đang có ý định tham gia (Malaysia, Thái Lan và Việt Nam) BRICS, một liên minh những cường quốc phi phương Tây gồm Trung Hoa và Nga. Nếu không thay đổi cách làm của mình, chính quyền Trump sẽ tự bỏ lòng tin và thiện chí mà những người tiền nhiệm đã xây dựng ở Đông Nam Á trong nửa thế kỷ qua.

__________

Tác giả

Yuen Foong Khong là Giáo sư Khoa học Chính trị mang danh hiệu Li Ka Shing và là Đồng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á châu và Toàn cầu hóa tại Trường Chính sách Công Lee Kuan Yew, Đại học Quốc gia Singapore.

Joseph Chinyong Liow là Giáo sư mang danh hiệu Tan Kah Kee về Chính trị So sánh và Quan hệ Quốc tế, đồng thời là Hiệu trưởng Trường Nhân văn, Nghệ thuật và Khoa học Xã hội tại Đại học kỹ thuật Nanyang, Singapore.

    

Nguyên tác: Southeast Asia Is Starting to Choose | Yuen Foong Khong and Joseph Chinyong Liow | Foreign Affairs July/August 2025.
Người dịch: Trần Giao Thủy
Nguồn: dcvonline.net, 26.06.25

 

 

 

 

 

Direct link: https://caidinh.com/trangluu1/thoisu/dongnamabatdauluachon.html


Cái Đình - 2025