Cùng Al


Bản năng đấu tranh của người Việt

   

Người Việt có bản năng đấu tranh cực mạnh, và điều đó không phải tự nhiên mà có. Đó là di sản của hàng nghìn năm sống trong một xã hội nông nghiệp với tài nguyên hạn chế: nghèo đói, đất đai ít, năng suất thấp, dân đông, công cụ thô sơ. Lại thêm một yếu tố quan trọng: Việt Nam là một nước nhỏ nằm sát cạnh một đế quốc Trung Hoa khổng lồ luôn mang tham vọng chinh phục. Chính hoàn cảnh địa - chính trị ấy buộc người Việt phải phát triển một bản năng đặc biệt: khi có ngoại xâm thì đoàn kết đến mức kỳ diệu, cả dân tộc như co lại thành một nắm đấm để giữ đất, giữ nước.

Nhưng điều chớ trêu là khi không có kẻ thù bên ngoài thì bản năng đấu tranh ấy quay vào bên trong, chuyển thành những cuộc tranh đoạt quyền lực nội bộ. Trong suốt lịch sử phong kiến, các cuộc nội chiến tranh ngôi báu, tranh lãnh thổ cai trị diễn ra liên miên. Các cuộc chiến Lê - Mạc, Nam - Bắc triều, Trịnh - Nguyễn phân tranh suốt gần 200 năm, Tây Sơn - Nguyễn Ánh, hay vô số chính biến trong các triều đại Lý - Trần - Lê - Nguyễn đều là giành lấy quyền lực tối cao. Khi có giặc ngoài thì cả nước một lòng; khi hết giặc ngoài thì dễ dàng quay sang “anh em cốt nhục tương tàn”. Cha ông ta giỏi chiến đấu nhưng không có cơ hội học kỹ năng thỏa hiệp hay kỹ năng “sống chung khi không giống nhau”.

Bi kịch lớn nhất xảy ra ở thế kỷ 20. Đây là lần đầu tiên trong hàng nghìn năm người Việt đối mặt với một dạng xung đột mà cha ông hoàn toàn không có kinh nghiệm để xử lý: xung đột ý thức hệ hiện đại. Trong phong kiến người ta đánh nhau vì ngôi báu; sang thế kỷ 20 người Việt lại đánh nhau vì hai mô hình trị quốc khác nhau: một bên theo lý tưởng cộng sản và một bên theo lý tưởng quốc gia - dân chủ. Và khi một dân tộc vốn quen “thắng-thua”, vốn chưa từng biết “thỏa hiệp”, lại tiếp nhận hai hệ tư tưởng sắt đá của thế kỷ mới, thì bản năng tranh ngôi báu ngàn đời lập tức kích hoạt. Cuộc đấu tranh Quốc - Cộng kéo dài suốt nửa thế kỷ, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người, chia đôi đất nước, chia đôi gia đình, và để lại một vết thương tinh thần chưa bao giờ lành hẳn. Đến tận hôm nay, dư âm ấy vẫn còn trong cách người Việt nhìn nhau: nghi ngờ, đề phòng, dè chừng, đôi khi né tránh, đôi khi bùng lên thành những tranh cãi gay gắt trên mạng xã hội. Không phải vì người Việt ác, mà vì cha ông ta chưa từng có truyền thống hòa giải, chưa từng được rèn kỹ năng chấp nhận sự khác biệt, trong khi phải đối mặt với một cuộc chiến ý thức hệ khốc liệt nhất thời đại.

Nhưng thế kỷ 21 là một thế giới hoàn toàn khác. Khoa học, công nghệ, thương mại và thông tin đã khiến tài nguyên không còn gói gọn trong đất đai. Năng suất lao động của một người hiện nay cao gấp trăm lần người xưa; giá trị tạo ra đến từ trí tuệ, sáng tạo, thương mại quốc tế và hợp tác toàn cầu chứ không phải từ đất đai hay chiến thắng quân sự. Một người dân bình thường ngày nay với điện, nước sạch, cao ốc, ô tô, máy lạnh, ti vi, smartphone, internet, y tế hiện đại, du lịch máy bay... còn sống sướng hơn so với bất kì vua chúa phong kiến nào. Khi thế giới vận hành bằng tri thức và công nghệ, thành công của người này không cướp đi phần của người kia; sự phát triển của một tỉnh không làm tỉnh khác lụi tàn; giàu có của một doanh nghiệp không làm doanh nghiệp khác nghèo đi. Xã hội hiện đại là “cùng thắng”, không phải “thắng-thua”. Trong một thế giới như vậy, tiếp tục tranh đoạt, loại trừ và chia phe như thời phong kiến chỉ là suy nghĩ cổ hủ khiến một quốc gia tụt hậu.

Nhưng bản năng thì không dễ thay đổi như thời đại. Người Việt bước vào thế kỷ 21 với tâm lý của một dân tộc từng trải qua hàng nghìn năm tranh đoạt và nửa thế kỷ chiến tranh ý thức hệ. Vì thế, người Việt vẫn chia phe, vẫn coi nhau là đối thủ chỉ vì khác biệt quan điểm. Và từ đó, hình thành ba phe rất rõ. Phe thứ nhất là những người ưu tiên ổn định chế độ. Họ nhìn thấy sự đổi thay thực tế: GDP/ người / năm từ mức dưới 100-200 USD/người cuối thập niên 1980 lên khoảng 4.700 USD/người năm 2024; đời sống đã khá hơn thời bao cấp rất nhiều. Họ gắn phát triển với ổn định và tin rằng ổn định quan trọng hơn thay đổi nhanh. Họ sợ hỗn loạn, sợ lặp lại bi kịch “nồi da nấu thịt”, sợ xáo trộn vượt khỏi kiểm soát. Với họ, Việt Nam “đang đi lên” là một sự thật đáng trân trọng. Phe thứ hai là những người muốn cải cách mạnh. Họ không phủ nhận tiến bộ, nhưng nhìn vào khoảng cách với những nước bứt phá: Hàn Quốc từ 100 USD lên hơn 30.000 USD (tăng 300 lần), Singapore từ khoảng 1.000 USD lên hơn 90.000 USD, Trung Quốc từ 200 USD lên hơn 13.000 USD. Trong khi Việt Nam mới đạt khoảng 4.700 USD sau gần 40 năm Đổi Mới. Với họ, tốc độ này quá chậm; họ lo Việt Nam tụt hậu mãi mãi nếu không cải cách thể chế chính trị. Họ nói thẳng, nói mạnh, không vòng vo vì họ mang nỗi lo đất nước bị bỏ lại phía sau. Phe thứ ba là những người đứng giữa. Họ hiểu nỗi sợ của cả hai phía: sợ loạn như phe thứ nhất và sợ tụt hậu như phe thứ hai. Họ không muốn đập bỏ mô hình chính trị hiện tại vì biết rủi ro rất cao, nhưng họ cũng tin rằng Việt Nam chỉ tiến nhanh nếu dám cải cách mạnh bên trong mô hình đó. Với họ, vấn đề không nằm ở tên gọi chế độ mà nằm ở chất lượng quản trị, năng lực lãnh đạo, năng lực cải cách, chất lượng giáo dục, sức mạnh doanh nghiệp nội địa và khả năng tận dụng khoa học - công nghệ. Điều mà Trung quốc đã làm được và khá thành công khi trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới.

Và trên mạng xã hội, ta thấy di sản tâm lý ấy bộc lộ rõ nhất. Chỉ cần khác quan điểm là người Việt sẵn sàng mạt sát nhau bằng những lời nặng nề đến mức mà nếu nói ở ngoài đời thì có lẽ cả đời không thèm nhìn mặt nhau nữa. Trên mạng, người ta tung ra những câu xúc phạm mà nếu đặt vào hoàn cảnh có vũ khí thì có lẽ đã đổ máu. Chính vì nặc danh, vì khoảng cách của màn hình, và vì bản năng “thắng-thua” từ quá khứ chưa kịp phai, nên mạng xã hội trở thành nơi bản năng đấu tranh bộc phát rõ nhất: không cần hiểu nhau, chỉ cần tổn thương nhau bằng lời nói. Điều trớ trêu là tất cả những cuộc cãi vã ấy diễn ra giữa người cùng một quốc gia, cùng một dân tộc, cùng một nỗi lo và cùng một tương lai. Và tất cả đều là tổ tiên của thế hệ tương lai. Con cháu khi nhìn lại có lẽ rất ngạc nhiên khi thấy các vị tổ tiên của mình sao lại ác ý với nhau như vậy. Chính vì thiếu văn hóa thỏa hiệp và kỹ năng sống chung, nên khác biệt suy nghĩ lập tức bị xem như đối lập tuyệt đối.

Ba phe ấy không phải kẻ thù nhau. Họ chỉ mang ba nỗi lo khác nhau, đều xuất phát từ mong muốn đất nước tốt hơn. Điều làm người Việt chia rẽ không phải bản chất của ba phe mà là di sản tâm lý từ quá khứ: ai giống ta là bạn, ai khác ta là thù, hoặc trắng hoặc đen rõ ràng. Là thù thì cái gì cũng xấu, là bạn thì cái cũng hay.Tuy cùng một nước mà vẫn nhiều phe cánh.Chúng ta quen “đồng mà không hòa” hoặc “chống mà không hiểu nhau”. Trong khi lý tưởng của xã hội văn minh lại nằm gọn trong câu cổ nhân đã nói: “Kẻ tiểu nhân đồng mà không hòa, người quân tử hòa mà không đồng.” Tiểu nhân muốn người khác phải nghĩ giống mình mới yên tâm; quân tử thì dù khác nhau vẫn giữ hòa khí, vẫn hợp tác, vẫn coi nhau là đồng bào, không phải kẻ thù.

Trong quá khứ điều đó là dễ hiểu vì tài nguyên hạn chế buộc các phe tranh đoạt sinh tử. Nhưng khi khoa học, công nghệ và thương mại đã đưa mức sống một người dân bình thường vượt xa vua chúa ngày xưa, khi thế giới hiện đại cho phép mọi người cùng thắng, miếng bánh đủ to để ai cũng có phần, thì tiếp tục tranh chấp nội bộ chỉ làm lãng phí năng lượng vô nghĩa và tự làm nghèo chính cộng đồng. Người Việt đã giết nhau quá đủ trong lịch sử vì tranh quyền lực và vì xung đột ý thức hệ. Thời đại này không cần thêm đổ máu hay một cuộc chia rẽ nào nữa. Điều Việt Nam cần học không phải là cách thắng nhau mà là cách vượt các quốc gia khác trong cuộc đua Olimpic trên đường tới văn minh: hòa mà không cần đồng, khác nhau nhưng không loại nhau. Chỉ cần thế là đủ để một dân tộc bước vào thế kỷ 21 với tâm thế của người trưởng thành.

“Đất nước này không thiếu người tài, chỉ thiếu một điều mà cha ông ta chưa được học: người Việt không cần phải nghĩ giống nhau để cùng nhau đi lên.”

“Chúng ta đã thắng ngoại xâm suốt nghìn năm, chỉ còn một thứ phải thắng nốt: đó là cái bóng quá khứ trong chính mình.”

“Tương lai không thuộc về phe nào – tương lai thuộc về dân tộc nào biết hợp tác với nhau và với người ngoài."

   

Cùng Al

 

 

 

 

Direct link: https://caidinh.com/trangluu1/diendan/bannangdautranhcuanguoiviet.html


Cái Đình - 2025