nguyễn như mÂy
Má tôi
* Kính tặng Má.
<== Tranh: mẹ và con - nguyễn như mÂy
Má tôi là bà Trương Thị An, quê ở Hội An, sinh năm 1912. Khoảng năm 1946, Má đi buôn bằng ghe bầu và bị bão ở Vũng Rô (Phú Yên). Sau, đi bộ qua Đèo Cả (Khánh Hoà), lại bị Pháp bắt vì nghi là Việt Minh. Trong khi chờ xác minh lý lịch, Má ngồi xếp hàng ngoài sân lính tại đồn (?) Cổ Mã (Khánh Hoà), tình cờ Má lượm được cuốn sổ hưu của một quan Tây làm rớt ngay bên chỗ ngồi. Má kêu nhưng họ không nghe. Sau đó, ông thông dịch đi ra tìm thì được Má trao lại. Viên quan Tây mừng vì bắt được cuốn sổ nên cho Má vào đồn và hỏi: Cô muốn về đâu để chúng tôi giúp? Má từng nghe đồn rằng ở Phan Thiết có cá mắm và là nơi dễ làm ăn nên chọn Phan Thiết. Xe lửa chở về tới ga Ma Lâm (trên trục đường Bắc-Nam) thì họ cho Má xuống. Nếu đi đường bộ từ đó xuống tới Phan Thiết phải mất 15 km nữa mới tới. Trong cảnh tứ cố vô thân và đói rách, Má không có tiền sống nên bắt đầu rơi vào rất nhiều khó khăn. Má kể: có những bữa thiếu ăn đã phải sống nhờ bà con xóm ga và ở quanh chợ Ma Lâm giúp đỡ (sau này làm ăn có tiền, Má giúp đỡ để trả ơn lại cho mọi người đã từng cho Má ăn cơm; ví dụ như gia đình chú Bảy Dệt, anh chị Hai Qui ...).
Lúc đó, Ba (gốc dân Bình Định) làm Trung sĩ (Sergent) lính Tây và đóng đồn gần đó. Ba và Má gặp nhau rồi cưới nhau tại Ma Lâm (khoảng năm 1947?). Má kể: nhờ bà con quanh đó thấy Má chịu thương chịu khó làm ăn nên đã mạnh dạn giúp vốn dù lúc đó Má đã là vợ của Ba – một ông trung sĩ sống ngay thẳng được mọi người quí mến. (Ví dụ như Ba nghe lịnh trên nói hôm sau đi xử bắn, liền bắt những con bọ rầy, ruồi... ăn cho bị đau bụng, phải đưa vào bịnh viện nằm để tránh đi “xử bắn” vì Ba biết đó là bắn những đồng bào của mình)...
Về phần Má, nhờ có vốn do dành dụm, Má buôn bán các loại rượu Tây nên có được thêm số vốn khá (mặc dù Má không hề biết một chữ Việt hay Pháp nào!)
Má kể: Hai năm sau tôi mới ra đời sau khi các bà con ở Ma Lâm – và nhất là quí bà Ngoại, dì... là ruột thịt của Má trước (Bà bị mất vì bịnh) đi hết các chùa, miễu (kể cả ở nhà thờ Công giáo và Tin Lành... từ Ma Lâm về đến Phan Thiết) để cầu khấn cho có tôi. Hai năm sau, vào chập tối ngày đầu tháng Chạp năm Kỷ Sửu (1949) tôi mới ra đời. Má kể: có cả bác sĩ Tây phụ với Cô mụ Bảo (là Phu nhân của thầy Lê Bảo, sau này là Hiệu trưởng trường Bạch Vân (Phan Thiết) cùng đỡ đẻ cho Má. Theo lời Má kể: tôi sinh ra trong một cái bọc điều đầy nước ối; và Má đã phải cắn răng chịu đựng suốt thời gian chuyển bụng 4 ngày 3 đêm mới sinh ra được tôi tại Nhà thương thí Phan Thiết (ở đường Hải Thượng Lãn Ông). Theo lời Má: tôi là con so vì lúc ấy Má đã gần 39 tuổi rồi. Vậy là tôi là con một duy nhất của Má nên được Ba Má cưng chìu hết mức. Sau khi nghỉ hưu, Ba đưa Má về Phan Thiết mua nhà và mở tiệm tạp hoá (số nhà 18, đường Nguyễn Hoàng – ngã tư cổng xe lửa ga Phan Thiết; nay là đường Lê Hồng Phong). Ba dạy tôi học chữ Pháp và chữ Hán ở nhà. Đến gần 10 tuổi tôi mới được đến trường học chữ Việt Nam; nhưng hoặc đích thân Ba chở bằng xe đạp hoặc anh ruột (con của Má trước; sinh năm 1942) cõng đi học – hoặc một xe xích lô đưa rước từ nhà tới trường - và ngược lại hằng ngày như một “công tử”(!).
Tôi nhớ có lần: lúc chưa tới 10 tuổi, tôi vào nằm chơi trong tủ gỗ của tiệm rồi ngủ quên luôn. Cả nhà đổ xô đi tìm. Má rao: ai tìm được tôi, Má cho một cây vàng (giá khoảng 2000 đồng). Nhưng rồi tôi ngủ xong mới chun ra khỏi tủ. Nghe tin tôi vẫn bình an, ai cũng vui lòng và mừng cho Ba Má tôi. Tuy vậy, Má vẫn đong cho mỗi bà con – thậm chí có người ở cách 5 cây số – 10 ký gạo và một lít nước mắm... cho tới hơn cả rất nhiều một lượng vàng Má đã hứa mới thôi!
Khi tới tuổi đi lính, tôi được hoãn dịch vì có anh đi lính. Má rất lo sợ tôi phải “ra chiến trường” khi bị đi lính! Trong khi đó, Ba tốn rất nhiều tiền mua rất nhiều sách – kể cả gởi đi Sài Gòn – mua sách cho tôi “xây thư viện” ở trên lầu, khoảng 3000 cuốn sách văn học Việt Nam và thế giới – kể cả sách chữ Pháp, Hán! Việc sinh hoạt cá nhân của tôi do một chị được cắt cử để giúp việc riêng – kể cả ăn uống... Đi học ở trường về là tôi chỉ vào phòng riêng để học, đọc... như một “tiểu thư”(!), nghĩa là không bạn bè chi cả vì Ba rất khó và rất kén bạn cho tôi. Tôi chỉ biết tới sách và sách cho tới khi... “bung” ra đi theo bạn bè rong chơi. May là tôi đã không “dính” tới Cocain (tục gọi là “ken”!). Lúc bấy giờ tôi bắt đầu “xài” tiền và vàng của Má để đi chơi khắp nơi bằng máy bay... nhất là Đà Lạt và Sài Gòn, Huế ... Một hôm, tôi nghe tin Ba Má chuẩn bị “làm đám cưới” cho mình là tôi “zọt” ngay lên một ngôi chùa quen ở Đà Lạt để trốn – “cưới vợ” là cưới người sau này là vợ tôi cho tới nay – mặc dù do tôi quen và đã đưa cô ấy về nhà giới thiệu cho Ba Má “coi mắt” (tôi đã đưa về nhiều cô – kể cả người nước ngoài rất đẹp và dancing rất bay bướm nhưng Ba Má không thích)... Nhưng khi tôi có con (8, 1975) thì Má tôi đã qui tiên từ 1973 – là năm tôi cưới vợ.
Tôi là dân “học trò dài lưng tốn vải”, còn vợ tôi (cho tới nay) vốn là nữ sinh lớp 10; là con gái đầu của một vị Đại uý địa phương nên đi học hoặc đi đâu đều có xe riêng đưa rước! Ông Nhạc của tôi xưa cũng từng là trí thức và là con nhà địa chủ và học hành rất khá cả chữ Pháp lẫn chữ Hán... Sau này, bạn bè tôi chỉ “phán” một câu “xanh rờn” nhưng rất “hay” và đủ “gói gọn” về vợ chồng tôi:
– Vợ Như Mây làm từ A đến Z. Còn Như Mây chơi từ Z đến A! (may là bảng Alphabet chỉ có tới chữ Z là hết – tôi đã nghĩ như vậy!).
nguyễn như mÂy
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/vanhocnghethuat/van/matoi.html