Nguyễn Lê Hiếu
Tuổi già tang thương
Trải qua một cuộc bể-dâu
Hầu như ở nước ta, ai cũng biết mấy câu mở đầu Kiều này; và đa-số biết cái tích bể-dâu rút từ câu chuyện Thương hải tang điền, do tiên-nữ Ma-cô nói là từng chứng-kiến mấy lần bể xanh biến thành ruộng dâu, sự việc kể trong truyện Thần-tiên do Cát-Hồng trước tác. Những thay-đổi đảo-lộn đời đó, nôm-na gọi là bể-dâu, sính hoa-ngữ dùng tang thương, nói tắt của nhóm từ “Thương hải tang điền”.
<=== Ma-Cô tiên-nữ, hình internet
Ma-Cô tiên-nữ tương-truyền là con gái Ma-Thu tướng-công; ông quá nghiệt-ngã, con gái bỏ nhà ra đi, gặp sư-phụ, học đạo rồi tu tiên. Lại có thuyết tiên là tiên-nữ duy-nhất trong nhóm bát-tiên, thường được họa như một người nữ xinh đẹp lụa-là, nâng đĩa đào tiên, biểu-hiệu phúc và thọ. Tác-giả cuốn truyện Thần-tiên là Cát-Hồng sống thời hậu Tam-quốc; ông thích phép luyện đan, nên xin được phục-vụ ở Giao chỉ, vùng núi La-phù (hồi đó thuộc về Quảng-đông) nơi phép luyện-đan nổi tiếng. Cát-Hồng viết nhiều sách thuốc và truyện thần tiên. (Giao-chỉ cũng có chuyện tiên Ma-Cô khác: Ma-Cô tiên-nữ dòng-dõi Hồng-bàng nên biến thành Gà-trắng phá việc xây-dựng Loa-thành của nhà Âu-lạc, cho đến khi bị thần Rùa-vàng triệt). Nay ở Bắc-ninh còn có Lăng Bạch-kê Ma-Cô tiên. (Ma ở đây không phải là họ; mà là mẹ, mạ).
Lăng Bạch-kê Ma-cô tiên, Bắc Ninh. Hình internet ===>
Nguồn-gốc kể là cao sang.
Vào đầu thế-kỷ trước, khi ngoại-nhân lũng-đoạn xã-hội, thì có một nghề, vốn rất cổ-xưa, được quản-trị theo đổi-mới, nói nhẹ-nhàng là nghiệp Chị-em-ta. Làm nghề này xưa thì kín-đáo; vậy mà nhà nghiên-cứu Lại-Nguyên-Ân kể là ở Sài-gòn, năm 1930, báo xưa ghi hôm 26 Mai mới rồi, có đến 150 cô nhà thổ với 20 ả tàu kê rủ nhau đi biểu-tình. Họ rủ nhau đem trả giấy phép làm đĩ lại cho sở Đốc lý lấy cớ rằng thuế cao quá, làm không đủ tiền mà nộp, xin từ chức hết thảy. Họ lại thanh ngôn rằng sẽ làm reo, không tiếp khách nữa, kỳ cho đến khi nào chánh phủ hạ thuế xuống. Đây có thể là tổ-chức nghề-nghiệp lao-động sớm ở nước ta; lại còn tranh-đấu, biểu-tình, đình-công; cũng có người quản-trị, che-chở, bảo-vệ và... thu thuế nghề-nghiệp; gã này cũng gọi “ma-cô”. Cùng từ ma-cô, gốc Hoa là tiên-nữ, gốc Pháp là “cai-điếm”. Kippling nói “đông là đông, tây là tây” khác biệt khó gặp nhau hòa-hiệp là vậy.
Nghĩ lại cho kỹ thì bể-dâu không hoàn-toàn giống tang-thương. Bể-dâu là đổi-thay rúng động trong thiên-nhiên: ruộng thành biển, biển thành ruộng, cái ý chính là thay-đổi hai chiều vô-tính không bên-trọng-bên-khinh. Tang-thương cũng là đổi-thay nhưng mang hàm-ý đi-xuống; nhà triệu-phú làm-ăn thua-thiệt mất sự-nghiệp là cảnh tang-thương; chứ còn người nghèo túng trúng xổ-số trở nên giàu-có phát-tài chẳng gọi là tang-thương. Tang-thương chuyên-chở ý đổi-thay xuống-dốc. Trên đường hoạn-lộ, bị hạ-tầng công tác; trong thương-trường, vốn lời mất-mát: đó là cảnh tang-thương nghề-nghiệp; trong canh bạc lớn ở đời, khởi-điểm càng cao thì tang-thương càng đậm càng đau.
Cái già xồng xộc nó thì theo sau: Cuộc tang thương lão hóa
Có cảnh tang-thương người sống lâu khó tránh được là tuổi già, con người thường chịu thua-thiệt! Người vắn số không nói làm chi; còn những ai có quỹ thời-gian dài thì càng thấm-thía cảnh mắt yếu, răng long, lưng còng, chân mỏi! Nhiều ông phàn-nàn mới năm sáu bó mà đã thấy mỏi gối chồn chân, đi tìm hỏi nhau thuốc hồi-xuân. Nhiều bà than-thở mới đấy mà cái già nó đã xồng-xộc đến sau lưng, xầm-xì mách nhau những mẹo cải-lão. Nhà khoa-học lạnh-lùng phán rằng hiện-tượng lão-hóa đến sớm hơn là chúng ta tưởng; nó sớm xuất hiện từ tuổi độ tuổi mới ngoài hai-mươi dưới ba-mươi; ra ngoài ba-mươi, xương cốt kém cứng-cáp, da-dẻ bớt mềm-dẻo, cơ-bắp bắt đầu co teo; tuổi bốn-mươi, cơ-thể xuống dốc mau hơn... đó mới chỉ là suy-giảm về thể-xác. Thoái-hóa về mặt trí-tuệ cũng nổi-bật với thời-gian, nói đấy rồi quên ngay, tính đi vào nhà trong mà vào rồi không còn nhớ mình định vào để làm gì; thậm-chí kiếng đeo trên mắt mà cứ dọc ngang xục-xạo trong nhà đi tìm kiếng.

Tệ hơn là hỏi bạn-bè họ-hàng người là ai, tên gì. Trong khi trông chờ sự giúp-đỡ thể-chất và hướng-dẫn thì người cao-niên lú-lấp lại tạo hiểu-nhầm, gây nghi-kỵ, dẫn đến giận-hờn tủi-nhục hay... là bạo-lực từ nhiều phía. Tang-thương hơn nữa là các triệu chứng xuất-hiện từ-từ như tằm ăn dâu, ta thường ít để ý cho đến một ngày đẹp trời, con cháu mới chợt nhận thấy hơi trễ – và chép miệng than rằng – ông bà già giờ lại đâm “dở chứng”. Lúc đầu con cháu cố-gắng chiều-chuộng, tìm cách sửa-sai, riết rồi cũng chịu, bỏ qua... rồi... bỏ quên luôn, nhẹ thì coi lão nhân như không có, nặng thì thấy đó là món nợ lù-lù giữa nhà: thiếu sức-lực thể-chất, mất trí-tuệ hàng-ngày, nay nhu-cầu tình-cảm và tâm-linh cũng bay xa... Tang-thương là thế!

Cần chi, ta chẳng cần chi... chỉ cần tự-lực tự-quản
Quen làm chủ gia-đình, nay thành con ngươi bị bỏ-qua-bỏ-quên. Mấy bác-sỹ chuyên về lão-học, giải-thích rằng người già muốn – và cần – được tự-lực tự-quản. Tự-lực là tự mình, dùng sức-lực của mình mà sinh-hoạt, dựa vào sức-khỏe thể-xác. Tự-quản là dựa vào tinh-thần trí-tuệ mà quyết-định mọi sinh-hoạt của mình và cho mình. Còn cảnh bỏ qua bỏ quên mình là vấn-đề tình-cảm. Cái khổ của tuổi già có ba mặt đó: thiếu năng-lực tự lực, thiếu năng-lực trí-tuệ, thiếu tình thương. Người già ngồi nghĩ đến cái kiềng ba chân hay là ba cái cột-trụ mình nương-tựa vào lúc cuối đời.

Ba cột tựa của người già
Mỗi cột đó, cao thấp tùy theo từng người, từng hoàn-cảnh; nhưng nói chung, mỗi cột có ba phần.
Về cột sức khỏe thể-xác, ba phần đó là:
Về cột trí-tuệ, cũng có ba cấp tương-đương:
Xét chung hai cột đó, và tùy theo cấp-bậc của mỗi cột, ta có thể ước-lượng khả-năng tự chủ của lão-nhân. Kém là khi lão-nhân ở bậc thềm dưới mức tối-thiểu trong cả hai cột: người này cần sự chăm-sóc theo-dõi gần như toàn thời-gian. Ngược lại, nếu ở cấp cao cả hai cột, trường-hợp lý-tưởng: lão-nhân này có thể – và có quyền – sống tự-do, tự-quản.
Cột tâm-linh tình-cảm
Cột nhu-cầu tâm-linh tình-cảm cũng có ba cấp nhưng phân-loại hơi khác-biệt.
Cây sậy suy-tư


Lại có phần tâm-linh đường gần là đoạn cuối đời mình. Phù-du là-là trên mặt nước, gặp chuồn-chuồn đang bay-bổng; chơi chung tới cuối chiều; chuồn-chuồn hẹn ngày mai gặp lại. Phù-du nghe tự hỏi ngày mai là cái gì nhỉ. Xẩm tối đó, sau khi chia tay cùng chuồn chuồn, phù-dù gặp phù-du bạn-lòng, cùng nhau múa trọn bài vũ-tuyệt-diệu-trong-đời rồi thả ra cả triệu trứng li-ti; nhiệm-vụ sinh-tồn và bảo-tồn dòng-giống hoàn-tất, đôi phù-du tan-rã trong thiên-nhiên: chúng đã sống trọn-vẹn kiếp phù-du. Hôm sau, chuồn-chuồn ra ao, không thấy phù-du; hỏi ếch, nắm đươc phần nào lẽ sinh-tử tồn vong; bèn vui chơi với ếch cho tới cuối mùa thì ếch lại dặn hẹn mùa này sang năm sẽ gặp lại; chuồn-chuồn tự hỏi sang năm là gì nhỉ? Và cũng như phù-du, chuồn-chuồn đi hết đời mình rồi tan-rã. Người già đã gần chu-toàn kiếp sống của mình, những ngày tháng còn lại, con người có được phép tự nhiên tan-rã, thân đất-sét hoàn về đất hay không?
(Xét về tình người, xã-hội có nên duy-trì án tử-hình hay không?) Xét trong gia-đình, con cháu có nên chiều ý ông bà vào lúc xế-chiều hay không? Dùng tiêu-chuẩn nào mà chiều hay không chiều? Mà tiêu-chuẩn nào bảo cho biết là chiều đến đâu thì là đủ? Người già có còn ước-vọng cuối đời nào chăng? Ai tri-âm tri-kỷ lúc cuối đường?
Mỗi người một vẻ
Có lần tôi gặp một người đồng-hương tỵ-nạn hỏi ý-kiến về săn-sóc mẹ già. Hai vợ-chồng đón được mẹ sang đoàn-tụ; lo-lắng gọi là chu-đáo. Sáng lo bữa điểm-tâm và bữa trưa trước khi vợ-chồng đi làm; chiều về lo bữa tối cơm gạo trắng canh ngọt, món sào món kho không thiếu; thức ăn tráng-miệng hoa-quả đầy-đủ trong tủ lạnh; giải-trí có ti-vi, không hiểu tiếng anh thì xem video Thúy-nga. Tiêu-chuẩn khá đầy-đủ; mà bà cụ cả ngày thở dài, kêu ăn không ngon, bánh mì bơ phó-mát không hợp-khẩu, miệng lúc nào cũng lạt-lạt như thiếu trầu, đi ra đi vào nhìn trái trông phải chỉ rặt mấy ông mỹ bà mễ ngôn ngữ nghèo-nàn mà lại kiệm lời, chỉ lặp-đi-lặp-lại mấy câu hé-lồ và heo-nái. Mắt không nhìn thấy đồng-hương, tai chẳng thấy các thanh sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng... nơi này quá hoang-vu! Đưa mẹ đi khám bác-sỹ, qua lời thông-dịch của con dâu, bác-sỹ chẩn-đoán bà già trầm-cảm, cho thuốc điều-trị. Không khấm-khá, bà cụ buồn vẫn buồn. Rồi tham-vấn bác-sỹ thần-kinh tâm-lý, kết-quả không khá hơn. Sau chuyển qua bác-sỹ tâm-lý gia-đình. Nghe hết câu chuyện, bác-sỹ tâm-lý gia-đình phán: nan-đề không phải là bà cụ mà chính hai vợ-chồng mới cần được săn-sóc. Khi mình đã làm tất cả các điều cần làm mà bà cụ vẫn còn phàn-nàn thì mình hết trách-nhiệm; lỗi này nơi bà già, mình phải biết buông ra, để bả tự giải-quyết vấn-đề của bả. Tôi nghĩ khác-biệt văn-hóa khiến các bác-sỹ chỉ xét nhìn hai cột tự-túc tự-quản mà chưa để ý đầy-đủ đến cột tâm-linh tình-cảm của bà già.
Bữa qua, đọc trên mạng, thấy có người viết ngậm-ngùi:
Thôi thôi, tôi đã già rồi
Không mần chi được, chỉ ngồi chờ ăn.
Thôi thì trệu trạo ăn qua loa, uống lai rai để chờ ngày về với đất cũng đặng rồi. Âu thì:
Quãng đời còn lại vô thường
Phôi pha vàng đá cuối đường có nhau.
Không chắc là luôn-luôn phải như thế; NẾU chúng ta chú ý để tâm xét thêm nhu-cầu tình-cảm và tâm-lý của lớp người già.
Cái tôi ...ít dễ-thương
Tôi năm nay bước vào tuổi chín-mươi; trời thương cho còn khá: tai-biến mạch-máu não, định bệnh sớm không có dư-chứng; mạch tim tắc nghẽn, giải-phẫu trước khi cơ tim có tổn-thương; răng lợi hư-hỏng đã thay-thế sửa tới nơi tới chốn; tiêu-hóa mới rục-rịch đã sớm được chăm-sóc. Cột một tự-lực khả-quan.
Con-cái ở gần, sáng thăm chiều hỏi; nhóm bạn già sinh-hoạt hàng tháng, bàn chuyện văn-chương văn-hóa vượn-huơu; nghe hiểu tin thời-sự: biết ai muốn xưng hùng xưng bá, hiểu ai có tiền-án mà vẫn xưng vương nhảy được lên bàn-độc; cột hai tự-quản coi như cũng đủ dùng.
Phần tâm-linh, theo người xưa, thần thánh kính-trọng mà né tránh từ xa; dốc lòng tin ở nhân-loại nhân-bản.
Phần cá-nhân bắt chước phù-du, mong hoàn-tất kiếp mình; việc lớn đã xong, việc nhỏ nếu còn dư, cố làm cho trọn. Có còn chút tình riêng văn-hóa hay tâm-tình tri-âm tri-kỷ, từ-từ đi nốt đoạn cuối rồi tan trong thiên-nhiên, hay về với đất-sét.
Tưởng như là thoát được cảnh tang-thương tuổi già.
Bs. Nguyễn Lê Hiếu
6-6-2026
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/khoahocdoisong/tuoigiatangthuong.html