Tuệ Thiện
Lịch sử tiến hóa của trí khôn nhân loại
Luận giải về trí khôn nhân loại đầu tiên được các triết gia khai thác, rồi đến các nhà thiên nhiên học, dần dà lôi kéo luôn các nhà logic học, tâm lý học, sinh học, sinh hóa học, tâm não học (neuroscientifique), vật lý học, tạo thành một tập thể các nhà khoa học. Các luận giải đặt con người vào diễn trình tiến hóa của loài người (phylogenèse) từ tạo thiên lập địa (3,6 tỷ năm), từ khi trái đất bắt đầu có sự sống ở các vi-sinh-vật (bactéries) và các rong xanh (cyanobactéries) là các sinh vật đơn bào có thể sản xuất ra oxy bằng sự quang hợp. Rồi lồng vào đó là diễn trình phát triển (ontogenèse) của trẻ em từ 0-2 tuổi cho tới khi trưởng thành (khoảng 25 tuổi). Sau cùng khoa học thêm vào phần “vi-sinh nhận thức” (microgenèse cognitive) tương quan với khoảng thời gian rất ngắn của sự học hỏi hay giải quyết một công việc phải làm của não bộ trong suốt đời sống, thời gian có thể là tháng, ngày, giờ, phút cho tới một phân đoạn của giây.
Trí khôn con người không phải xuất hiện một cách thình lình, mà là thành quả tập hợp của những biến đổi thuộc sinh học, nhận thức và xã hội trong dòng giống loài người.
Hiện nay chỉ còn lại giống người Tinh Khôn thôi với những đặc điểm có ngôn ngữ bằng những ký hiệu phức tạp, ý nghĩ trừu tượng, truyền đạt văn hóa tích lũy, sọ não nở rộng khoảng 1.350 cm3.
Trí khôn con người không phải chỉ tùy thuộc thể tích của sọ não mà còn ở tổ chức của hệ thần kinh, sự phát triển của xã hội và sự tích lũy của văn hóa.
Lịch sử tiến hóa về trí khôn nhân loại bắt đầu với Aristote (384-322 TCN). Ông nói những năng lực của nhận thức đến từ “Linh hồn”, hiện hữu trong tất cả các sinh vật: trong cây cỏ với hình thức dinh dưỡng và phát triển, trong thú vật với khả năng cử động và tri giác thêm vào những cái trên đây, trong con người với khả năng suy nghĩ và lý luận. Thế giới của Aristote là một hệ thống sinh vật cố định, tạo ra bởi Thượng Đế trong một vũ trụ vĩnh cửu (như vũ trụ của Socrate và Platon), không như một thế giới biến đổi, tiến hóa như các nhà thiên nhiên học khám phá sau này.
Đến Georges-Louis de Buffon (1707-1788): là nhà thiên-nhiên học, toán học, vũ trụ học đã viết ra một tác phẩm vĩ đại “Lịch sử thiên nhiên tổng quát và đặc thù” với 36 quyển đã ảnh hưởng đến các nhà khoa học về thiên nhiên sau này. Ông đưa ra quan điểm: lịch sử thiên nhiên ở ngoài đức tin tôn giáo.
Đến Jean Baptiste de Lamarck (1744-1729), người thay thế Buffon điều khiển Bảo Tàng Thiên-nhiên tại Paris đã đưa ra học thuyết tiến hoá biến đổi của các sinh vật có tính cách máy móc duy vật:
a) Cơ thể sinh vật trở nên phức tạp dưới ảnh hưởng của cơ chế bên trong là sự biến dưỡng.
b) Chúng thay đổi khác nhau, chuyên biệt hóa dưới ảnh hưởng của cơ chế bên ngoài là sự thích ứng với môi trường và hoàn cảnh. Theo ông sự biến đổi này được truyền lại cho những thế hệ sau nhờ sự lưu truyền các đặc tính thụ đắc được (acquis)
Sau tới nhà Thiên-nhiên học người Anh Charles Darwin (1809-1882) tỏ lòng kính phục Lamarck, tuy nhiên đã xét lại toàn bộ lý thuyết của ông. Trong quyển “Nguồn gốc các giống nòi”, Darwin đưa ra giả thuyết về một cơ chế tổng quát, được chấp nhận hiện nay là sự chọn lọc tự nhiên các giống nòi dựa trên 2 nguyên tắc:
a) Sự thay đổi các đặc tính, thế hệ này tiếp nối bởi thế hệ sau (mà nguồn gốc di-truyền của sự thay đổi bấp bênh này, theo Darwin chỉ sẽ được hiểu với các định luật Mendel)
b) Sự chọn lọc do sự sống còn (tồn tại) và sinh sản cho những giống nào thích ứng nhất với môi trường sống của chúng.
Đối chiếu 2 học thuyết trên, ta thấy sự khác biệt sau dây:
*Với Lamarck:
*Đối với Darwin thì khác hơn:
Khoa học ngày nay chấp nhận lý thuyết của Darwin với những bổ túc của môn di truyền học hiện đại. Lý thuyết của Lamarck đa phần bị phủ nhận dù ràng những hiện tượng ngoại-di-truyền (épigénétique) có nhắc tới sự di-truyền liên hệ với hoàn cảnh, nhưng không theo đúng ý tưởng của Lamarck.
Để nghiên cứu trí khôn con người, các nhà bác học tây phương thấy cần phải có những phòng nghiên cứu tâm-lý-học thực nghiệm, cho nên ở Anh Quốc năm 1884, tạo ra phòng đo lường nhân học (anthropométrie); ở Đức có phòng thí nghiệm Leipzig đo lường thời gian phản ứng tâm lý đã suy diễn ra nhiều định luật về hành xử có liên hệ chặc chẽ với những định luật về tâm thức. Do đó nên môn Tâm-vật-lý (psycho-physique) trở thành Thần-kinh Vật-lý (neurophysique). Pháp có phòng Tâm-lý-học thực nghiệm, ở Đại học Sorbonne 1889 với những máy móc tối tân rồi tới Binet năm 1895, là nhà tâm-lý-học Pháp nổi tiếng thế giới.
Đến thế kỷ XX, các nhà khoa học hướng vào nghiên cứu sự tiến hoá của trí khôn con người từ thai bào đến tuổi trưởng trưởng thành (ontogenèse).
Alfred Binet (1857-1911) cùng với Théodore Simon lần đầu tiên đưa ra trắc nghiệm trí khôn để nhận diện những đứa trẻ có những khó khăn trong học vấn nhằm trợ giúp chúng. Trắc nghiệm này gồm có nhiều mức độ khác nhau tùy theo tuổi và đo lường nhiều khả năng tinh thần: sự hiểu, trí nhớ, lý luận, chú tâm, ngôn ngữ... Trắc nghiệm này đưa ra ý niệm về tuổi tinh thần và dẫn tới chỉ số thông minh (QI: quotient intellectuel).
Vài năm sau, tâm lý gia Đức William Stern (1871-1938) đưa ra chỉ số thông minh bằng công thức QI= tuổi tinh thần/chia cho tuổi thật x100. Theo đó Trí Khôn trung bình là 100 (+/- 15 hoặc 30 tùy theo tiêu chuẩn)
Ở Hoa Kỳ, theo thời gian với sự tiến bộ của kỷ thuật các nhà khoa học đưa ra nhiều trắc nghiệm chuyên biệt và chính xác hơn:
Charles Edward Sperman (1863-1945) phân tích những yếu tố tạo thành trí khôn và đưa ra lý thuyết “yếu tố G” gọi là Trí khôn Tổng Quát (intelligence générale).
Louis Thurstone (1887-1955) phân biệt nhiều khả năng của trí não: con số, ngôn ngữ, không gian, trí nhớ, lý luận, vận tốc hành xử tri giác...
David Wechsler (1896-1981) đưa ra nhiều chỉ số khác nhau: QIV (verbal, ngôn ngữ), QIP (performance, hiệu năng cao), QIT (total, tổng hợp) trong đó người ta đánh giá 5 chỉ số: sự thông hiểu ngôn ngữ, sự lý luận trôi chảy, những khả năng hiểu biết và sử dụng những thông tin hình sắc và không gian, trí nhớ hành sự, vận tốc xử lý các thông tin.
QI có ích lợi như là một công cụ đo lường những khác biệt giữa các cá nhân với những dấu chỉ ngày càng vi tế hiện nay, nhưng nó không định nghĩa được yếu tính của sự thông minh và đôi khi có cái nhìn hạn hẹp. Trong nhiều trường hợp các trẻ em có QI >130, rất thông minh, nhưng lại thất bại trong đường học vấn. Như vậy vấn đề là người ta không biết cách sử dụng công cụ đó. Theo GS Olivier Houdé, hàn-lâm-viện sĩ Pháp về khoa học tinh thần và chính trị, cho biết là ở Pháp có nhà tâm-lý-gia lâm sàng Jeanne Siaud Facchin đã đóng góp đáng kể trong việc áp dụng cách sử dụng QI trong quyển sách “L'enfant surdoué, l'aider à grandir, l'aider à réussir/ Odile Jacob”.
Giáo sư Binet, trước khi đưa ra trắc nghiệm Binet-Simon, có một nghiên cứu đặc biệt quan trọng, nhưng ít được biết đến, trong đó ông định nghĩa: Trí khôn là khả năng thích ứng nhờ ở sự chú tâm, đặc biệt là ở sự kiềm hãm, ức chế. Đối với ông, một người thông minh là người có khả năng chú tâm vào những gì thích đáng, giữ sự tập trung lâu bền để chống lại sự phân tâm và ông gắn sự thông minh với khả năng kiềm hãm để ngăn chận một hành động tức khắc thiếu suy nghĩ, một trả lời máy móc do xung động. Về sau GS Olivier Houdé sẽ khai triển ý tưởng này trong lý thuyết về trí khôn của ông trong quyển sách “Trí khôn nhân loại không phải là một thuật toán” (L'intelligence humaine n'est pas un algorithme/ Odile Jacob).
Sau Binet đến GS Jean Piaget (1896-1980) vừa là một Tâm lý gia vừa là một nhà Tri thức luận (épistémologue), do đó ông quan tâm đến tâm-lý-học của sự phát triển tri thức của trẻ em. Ông dùng phương pháp phỏng vấn và quan sát lâm sàng, đưa ra lý thuyết về sự phát triển thông minh của trẻ em theo từng giai đoạn liên tục từ 0 tuổi đến 16 tuổi:
1/- Giai đoạn cảm giác-vận động (từ 0 tới 2 tuổi):
- đứa trẻ khám phá thế giới xuyên qua các giác quan và hành động của chúng (thấy, sờ đụng, nắm giữ...)
- nó phát triển ý niệm sự vật hiện hữu thường trực, ngay cả khi không thấy sự vật, với hành động nó có thể khám phá lại sự vật, nắm bắt sự vật và đem về với nó. Đó là nguyên tắc căn bản để kiến tạo sự thật.
2/- Giai đoạn chuẩn bị (2 - 7 tuổi):
từ 2 tuổi, trí khôn trở thành “biểu hiệu” hay “tiêu biểu” (symbolique ou représentative, có khả năng tượng hình trong đầu). Từ tuổi này phát khởi rõ ràng ý tưởng biểu trưng: như trò chơi dùng trái chuối giả làm điện thoại, dùng hình vẽ, ngôn ngữ. Hai sinh hoạt cuối này giúp đứa trẻ diễn tả lại hay hình dung lại những biến cố trong cuộc sống. Đó là bước tiên hoá vượt trội so với những loài vật khác.
3/- Giai đoạn hành sự cụ thể (7 - 12 tuổi)
- Trẻ em có thể lý luận hợp lý, nhưng trên những trường hợp cụ thể.
- Nó hiểu được những ý niệm như:
*sự bảo toàn số lượng, khối lượng, con số,
*sự chuyển đổi (hành động có thể bị hủy bỏ),
*sự phân loại và xếp thành lớp.
- Nó bớt coi mình là trung tâm của vũ trụ.
4/- Giai đoạn những hành sự hình thức (12 tuổi - trưởng thành)
-Xuất hiện tư tưởng trừu tượng và cách lý luận suy diễn-giả thuyết (hypothético-déduction)
-Đương sự có thể:
*suy luận trên những ý tưởng vừa cụ thể, vừa trừu tượng
*đặt ra những giả thuyết và làm thử nghiệm
*suy nghĩ trên những khái niệm về công lý, tự do hay đạo đức.
-Đó là nền tảng của tư tưởng khoa học và triết học hiện nay.
Nói tóm lại sự phát triển trí khôn tiến hành liên tục theo giai đoạn, mỗi giai đoạn có cấu trúc chặt chẽ, với những đặc tính rõ ràng và sự phát triển có tính chất phổ quát chung cho tất cả các trẻ em. Theo GS Jean Piaget sự phát triển nhờ ở 2 cơ chế:
Đến sau Piaget, GS Olivier Houdé, đã từng làm giám đốc phòng thí nghiệm Tâm-lý-học thực nghiệm ở Sorbonne (từ 1998 đến 2018), đã không đồng ý với GS Piaget như sau:
- cái đáng phê bình nhất đối với Piaget là quan niệm về sự phát triển tinh thần theo “ kiểu nấc thang”, nghĩa là tăng dần theo từng giai đoạn liên tục tiếp nối. Hơn nữa sự phân cấp và tính đồng bộ của những thao tác trí tuệ không được kiểm chứng trong thực tại (những phần việc xảy ra trong cùng giai đoạn không đồng nhất thành công với các trẻ em); một nghịch lý được tìm thấy là có những tài năng xảy ra sớm cũng như những bất tài xảy ra trễ hơn.
- Một mặt Piaget không biết tới những ấu nhi có những khả năng tinh thần khá phát triển, không thể rút gọn vào sự vận hành của cảm giác-vận động, như những dạng lý luận trên xác xuất từ các mẫu thống kê (cũng như những thuật toán, algorithme, khác nhau hoặc các hiểu biết nền tảng về vật lý và logic-toán học).
- Cũng như đối với những con số, các ấu nhi và trẻ em có những thuật toán thị giác về tính bất biền của con số so với chiều dài (từ tuổi vài tháng), cũng như những nguyên tắc đếm số, theo thuật toán logic-ngôn ngữ (từ 3 tuổi), tuy rằng chúng còn bị thất bại cho tới 6 tuổi trong việc nắm giữ con số, không đúng theo ý kiến của Piaget. Ngày nay người ta biết rằng khả năng tri giác về con số phát triển sớm nằm trong “luống trong thành” (sillon intrapariétal, SIP) của óc não ấu nhi và trẻ em.
- Mặt khác, ngược với khả năng lý luận xuất hiện sớm, sự phát triển trí khôn về sau cho tới vị-thành-niên và tuổi trưởng thành bị đánh dấu bởi những sai lầm về lý luận, những sai lệch nhận thức và ngữ nghĩa, bao gồm cả những tụt hậu hay những thoái hóa không được tiên đoán bởi Piaget. Thay vì phát triển theo đường thẳng từ cảm giác-vận động tới lý luận trừu tượng không suy suyển theo những bậc thang lũy tiến, sự thật trí khôn của bộ não tiến triển một cách kỳ hoặc và gút mắc, nghĩa là không thẳng đường.
Tiếp đến GS Olivier Houdé đưa ra lý thuyết của ông: Thông minh không phải là tích tụ kiến thức, mà là khả năng kiềm hãm, ngăn chận những trực cảm (intuition), chúng rất nhanh lẹ, nhưng thường sai lạc. Trí não con người phát sinh những trả lời tự động, sai lệch, nên thông minh là phải chế ngự những tự động đó, để kích hoạt sự lý luận có suy nghĩ.
Ông mô tả sự vận hành của nhận thức qua 3 hệ thống:
1) Hệ thống 1 (khám phá, phát hiện/ heuristique)
*nhanh nhẩu, tự động, trực cảm (intuition)
*hữu ích, nhưng thường sai lầm
2) Hệ thống 2 (luận lý, thuật toán/ algorithmique)
*chậm chạp, suy xét, phân tích
*giúp suy luận đúng
3) Hệ thống 3 (kiềm hãm, ức chế)
*phân xử giữa 2 hệ thống trên,
*ngăn chận những trực cảm sai lầm để cho hệ thống 2 hành động
Thông minh nằm ở hệ thống 3 chớ không hẳn ở hệ thống 2. Ý tưởng này gần giống với lý thuyết của tâm-lý gia Daniel Kahneman, đoạt giải Nobel về kinh tế năm 2002, nhưng sự khác biệt là ông đưa ra 2 hệ thống:
1- Hệ thống 1: nhanh nhẩu, trực cảm, cảm xúc không cần cố gắng, nó được sử dụng một cách tự động, nhưng cũng giúp cho sự sáng tạo do những liên tưởng.
2- Hệ thống 2: chậm rãi, cần lý luận, chú tâm, giải quyết những vấn đề rắc rối. Hệ thống 2 có thể sửa đổi Hệ thống 1, nhưng nó thường lười biếng, bỏ qua những lầm lỗi. Ông nhấn mạnh trên những sai lệch nhận thức với mục đích chính là giải thích tại sao con người lý luận sai lầm.
Hai ông khác nhau về chiều hướng: Kahneman thì quan tâm đến tâm lý của sự phán đoán, đến sự sai lầm của quyết định theo một cái nhìn mô tả, người ta suy nghĩ như thế nào và tại sao lầm lẫn. Trong khi Houdé quan tâm đến trẻ con, sự học hỏi và mở mang trí tuệ, một cái nhìn giáo dục và phát triển: như vậy đó người ta trở nên thông minh hơn.
Đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21,với sự phát minh các máy chụp quang tuyến và máy đo điện não tối tân, các nhà tâm-não-học (neuroscientifique) quan tâm nghiên cứu sự thông minh con người và đối chiếu với thông minh nhân tạo. Họ tìm cách trả lời câu hỏi trọng tâm là bằng cách nào những khả năng trừu tượng nổi lên từ não bộ như: sự suy luận, ngôn ngữ, toán học, ý thức. Họ đã phải phối hợp: những thí nghệm cách hành xử trên người thường, người bịnh hay bị thương tích; dùng máy móc IRMf (cộng hưởng từ chức năng), EEG (điện não ký), IRM de diffusion (cộng hưởng từ khuếch tán), TEP hoặc PET-Scan (chụp cắt lớp phát positron)...
a/- Họ tìm hiểu nền tảng sinh học của trí khôn và thấy rằng:
Kết quả họ có thể phân vùng óc não, như GS Stanislas Dehaene chứng minh những vùng chuyên biệt về ngôn ngữ hoặc toán học.
b/- Nền tảng phổ quát của thông minh là hiểu các con số, sự trực giác về con số gần như bẩm sinh, hiện hữu nơi những ấu nhi và ở các cộng đồng thất học. Vùng não chuyên biệt về khả năng này nằm ở thùy Đỉnh (lobe pariétal). Ta có thể kết luận là toán học không phải tùy thuộc vào văn hóa, mà tùy vào nền tảng sinh học.
c/- Ngôn ngữ của tư tưởng: gần đây GS Dehaene đưa ra một ý kiến mạnh mẽ là trí khôn nhân loại dựa trên những ngôn ngữ nội tại, giống như một mã số của tin học (code informatique). Những ngôn ngữ này giúp cho sự nhồi nén thông tin, để biểu hiện cho những cấu trúc phức tạp hơn (toán số, âm nhạc, hình dạng) và tạo ra những nguyên tắc trừu tượng. Cũng như muốn hiểu và sử dụng những con số, não bộ đưa ra 3 loại mã:
d/- Vai trò của di-truyền và môi trường:
Trí thông minh không phải chỉ được qui định bởi sự di truyền, mà còn bởi môi trường hay đúng ra là bởi sự tương tác giữa di truyền và môi trường: giáo dục, dinh dưỡng, và kinh nghiệm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển trí khôn. Môn tâm-não-học xã hội nghiên cứu tác động của bối cảnh văn hóa.
e/- Ngành tâm-não-học quan tâm đến cách vận hành của từng hệ thống các nơ-rôn và họ so sánh với các hệ thống “nơ-rôn nhân tạo” trong thông minh nhân tạo (IA), họ phân tách vận tốc và hiệu năng của sự xử lý các thông tin. Họ thấy rõ thông minh con người uyển chuyển (flexible), có thể thích ứng (adaptable) và sáng tạo hơn. Thông minh nhân tạo có hiệu năng hơn trong việc tính toán nhanh lẹ và trong sự phân tích các 'khối dữ liệu lớn' (big data). Óc não con người học hỏi nhanh với những dữ liệu ít và làm việc rất ít hao tốn năng lượng.
f/- Stanislas Dehaene và Jean Pierre Changeux đưa ra lý thuyết về “khoảng hoạt động toàn bộ của óc não”. Lý thuyết này rất quan trọng, là kết quả 15 năm làm việc của cả nhóm. Theo đó não bộ có hàng vạn các bộ phận xử lý (processeurs) làm việc chuyên biệt, tự động và vô thức ở rải rác trong vỏ não và trong các nhân dưới vỏ não. Trong khi đó ở tầng cao nhất của vỏ não, những bộ phận xử lý đó liên kết và trao đổi thông tin với nhau xuyên qua các hệ thống đông đảo các liên kết cách khoảng xa. Khi có một thông tin được chọn lựa, nó lọt vào “khoảng hoạt động toàn bộ” và được truyền tải trong vùng tiền trán và thùy đính, rồi loan ra toàn bộ óc não. Theo lý thuyết này, ta gọi đó là “được ý thức”, được lan rộng, có khả năng ảnh hưởng đến hành động tinh thần và vật chất, được nói đến, ghi nhớ, hồi tưởng; tóm lại được sử dụng trong mọi hành động và quyết định của chúng ta. Đó là sự thông minh trong cách xử lý các thông tin của bộ não con người, để có thể sử dụng những bài học quá khứ còn ghi chép lại trong ký ức của bộ não.
Trong năm 1980, nhà tâm lý học Mỹ Howard Gardner, GS Đại học Harvard về nhận thức và giáo dục, đã đưa ra lý thuyết về sự Thông minh Đa dạng đã làm đảo lộn tất cả những quan niệm trước đây. Theo ông có nhiều loại thông minh:
1.- Thông minh Ngôn ngữ (intelligence linguistique)
- là hình thức trí tuệ quan trọng nhất của loài người, là khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả (nghe, viết, nói, hiểu) mà khả năng này gắn liền với sự chú tâm (attention) và trí nhớ.
- Thông minh này thường thấy ở các văn-thi-sĩ, nhà báo, luật sư, sử gia, nhà phê bình văn học...
2.- Thông minh Luận-lý Toán-học (Logico-mathématique)
- là khả năng lý luận, tính toán, phân tích những vấn đề trừu tượng.
- thường thấy ở các nhà khoa học, toán học, kỹ sư, kinh tế gia, vật lý học.
3.- Thông minh Thị-giác Không-gian (int. Spatiale)
- là khả năng nhận diện một vật thể hay hình thể xuất hiện trước mắt trong mọi chiều kích không gian hai chiều hay ba chiều, khả năng biến đổi hình thể, khả năng tạo ra một hình ảnh biểu tượng...
- thường thấy ở kiến trúc sư, thiết kế kiểu mẫu, phi công, họa sĩ, nhiếp ảnh gia, qui hoạch phong cảnh, thiết kế đô thị, đạo diễn...
4.- Thông minh Cảm giác Thể vận (int. Corporelle-kinesthésique)
- là khả năng phối hợp giữa Thân và Tâm để giúp làm cho cử động của thân trở nên chính xác, kể cả những cử động vi tế của bàn tay để sử dụng các dụng cụ.
- thường thấy ở các vũ công, nhà thể thao, nhà làm xiệc, nhà giải phẫu, nhà điêu khắc, thủ công nghiệp, diễn viên kịch nghệ, màn ảnh, nhạc sĩ...
5.- Thông minh Âm nhạc (int. Musicale)
- là khả năng nhạy bén trong việc nhận diện 4 yếu tố của âm nhạc: giai điệu, nhịp điệu, âm sắc, âm điệu (mélodie, rythme, timbre, tonalité).
- thường thấy ở các nhạc sĩ, ca sĩ, nhà điều khiển âm nhạc, kỹ sư âm thanh...
6.- Thông minh Nội cá-thể (int. Intrapersonnelle)
- là khả năng một cá nhân nhận diện được tình cảm, cảm xúc và thâm nhập được đời sống nội tâm của chính mình.
- thường thấy ở các văn-thi-sĩ, triết gia, tâm lý gia, thiền gia...
7.- Thông minh Liên cá-thể (int. Interpersonnelle)
- là khả năng một cá nhân có thể nhận diện được qua một người khác tánh tình, cảm xúc, ý định, ước muốn, ngôn ngữ hình thể (không lời).
- thường thấy ở nhà giáo dục, quản trị gia, tâm lý gia, lảnh tụ tôn giáo hay chính trị...
8.- Thông minh Thiên nhiên (naturaliste)
- là khả năng quan sát và hiểu rõ thiên nhiên.
- thường thấy ở các nhà sinh học, thiên-nhiên học, nhà canh nông, nhà sinh thái học...
Sự mô tả phân loại này rất hữu ích cho việc giáo dục con người, nó khuyến khích phát triển những phương pháp giảng dạy đa dạng, nó giúp đánh giá những khả năng đặc biệt của những học sinh không giỏi trong những môn học thông thường.
Đến năm 1990, hai GS Peter Solvey và John Mayer lần đầu tiên đưa ra ý niệm “Thông minh Cảm xúc” được đo lường bằng Chỉ số xúc cảm QE (quotient émotionnel) theo đó người có chỉ số QE cao rất khôn ngoan khéo léo trong những phạm vi sau:
Làm sao để phát triển thông minh cảm xúc?
A/ Trước hết phải tìm hiểu thế nào là cảm xúc, có bao nhiêu loại và những hình thái biểu hiện của mỗi loại từ nhẹ tới mạnh
B/ Rèn luyện sự nội quán, nghĩa là quay cái nhìn vào bên trong để quan sát những gì xảy ra bên trong thân và tâm của mình. Ví dụ khi tức giận mặt nóng lên, tim đập nhanh, ngực căng nặng, hơi thở dồn dập, tâm bất ổn, bực bội...
C/ Chế ngự những xúc cảm tiêu cực, hầu hết các xúc cảm đều tiêu cực, trừ sự vui mừng:
Nhà tâm lý học Daniel Goleman, một chuyên viên nổi tiếng về EQ đã viết: “Nếu không có khả năng chế ngự cảm xúc, nếu không biết mình, nếu không quản trị được những cảm xúc tiêu cực, nếu thiếu sự cảm thông thì dù bạn có thông minh đến mấy đi nữa cũng sẽ thất bại mà thôi”.
D/ Xây dựng thái độ và cách ứng xử tích cực:
E/ Phát triển sự cảm thông, lòng từ bi và tha thứ:
G/ Phát triển khả năng nhận diện, quan sát đối phương và môi trường chung quanh.
Kết luận
Chúng ta đã điểm qua lịch sử tiến hoá của Trí Khôn con người. Chúng ta rút ra được vài nhận xét quan trọng sau đây:
_______
Sách tham khảo:
1- Giải mã Siêu Trí Tuệ/ Vishen Lakhiani/ Nguyệt Minh dịch/ nxb Công Thương.
2- Luật Tâm Thức/ Ngô Sa Thạch/ nxb Lao Động.
3- La plus belle histoire de l'intelligence/ Stanislas DEHAENE, Yann LE CUN, Jacques GIRARDON/ Points.
4- L'intelligence humaine n'est pas un algorithme/ Olivier Houdé/ Odile Jacob.
5- Le raisonnement/ Olivier Houdé/ Que sais-je?
6- Système1 Système2/ Daniel Kahneman/ Clés des Champs.
7- Les pouvoirs cachés de votre cerveau/ John Medina/ Leduc.s Éditions.
8- Les formes de l'intelligence/ Howard Gardner/ Odile Jacob.
9- L'intelligence émotionnelle/ Daniel Goleman/ Robert Laffont.
10- L'homme neuronal/ Jean Pierre Changeux/ Pluriel.
11- Le Code de la conscience/ Stanislas DEHAENE/ Odile jacob.
12- Les Mystères de la Conscience/ Miriam Gablier/Hachette Livre.
13- Sự Khôn ngoan theo Phật Giáo/ Tuệ Thiện/ thuvienhoasen.org.
14- Trí Tuệ trong Phật Giáo/ Tuệ Thiện/ thuvienhoasen.org.
Tuệ Thiện
12-06-2026
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/khoahocdoisong/lichsutienhoacuatri.html