Topa


Vết sẹo.

 

“… Mỗi lần tôi phải trở lại Saigon, tôi rất khổ tâm vì tôi luôn có cái cảm tưởng như hắn đang lẽo đẽo theo sau tôi đến nỗi tôi hoang mang và lo sợ vô cùng. Cũng vì quá lo sợ nên tôi không còn tâm trí đâu để tập trung vô công việc được. Mặc dù chuyện xảy ra cũng đã lâu lắm rồi nhưng không làm sao tôi quên được anh à. Tôi quen hắn tại Saigon qua sự giới thiệu của người bạn để rồi khi chia tay hắn thì Saigon đã mất tên. Ngày đó hắn đã làm đủ mọi cách để triệt tôi… vì vậy mà tôi luôn bị ám ảnh mỗi lần về đây.

Saigon đầu thập niên một chín bảy mươi khi anh không còn ở đây, luôn rộn rã tiếng cười, nói, với những con người tràn đầy tình thương yêu và tình tự. Miền Nam Việt Nam tuy đang bị nội chiến, nhưng Sàigòn thì lúc nào cũng nhộn nhịp và vui tươi. Chỉ đến khi chiến tranh chấm dứt thì sự nhộn nhịp và tươi vui mới bị chấm dứt cách tức tưởi. Miền Nam - Saigon - những ngày tháng sau đó đích thật là những tháng ngày đau thương vì sự hận thù đã làm cho cuộc sống trở nên ảm đạm và cũng không còn tự do. Miền Nam với ngày tháng tiếp nối nhau những âu lo, sợ hãi và trả thù mà không biết đến khi nào mới chấm dứt. Người Saigon không có công ăn việc làm nên nhà nhà thiếu gạo người người thiếu ăn. Saigon bị những cuộc trả thù man rợ ban ngày, những cuộc bắt bớ ban đêm xảy ra thường xuyên. Lúc này thì hắn lộ diện nên tôi mới biết hắn là người trong cái nhóm được gọi là, thành phần thứ ba. Thành phần chống lại chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Hắn vốn là tên hèn nhát nên trước đó không bao giờ có can đảm nói ra những điều đó mà phải đợi cho cuộc chiến chấm dứt và hợp cùng những tên xảo trá, hèn hạ và tàn ác, từ bao năm qua trong cái nhóm của hắn… lộ mặt. Hắn được hứa hẹn nên tin chắc mười mươi là sẽ nhận được một chức vụ quan trọng trong cái chính phủ mới nên hắn đã ra sức sáng tác nhạc với những lời lẽ chống chiến tranh cũng như  thân phận con người miền Nam đã và vẫn đang bị “Mỹ Ngụy” bóc lột của cải và sức lao động. Hắn hăng hái hành động để chứng tỏ minh chính là nhân vật sẽ tỏa sáng trong tương lai một khi ‘cách mạng’ thành công. Với nhà cầm quyền mới hắn đã quỳ mọp và tung hô “Hoan hô cách mạng thành công. Đả đảo Mỹ Ngụy.”… Người miền Nam gọi hắn là thằng mặt mẹt thằng lập... dị hợm…”

Ông là bạn học thời trung học. Sau chương trình trung học tôi được đi du học nên khi gặp lại nhau, ông đã không ngần ngại kể cho tôi nghe câu chuyện của ông với người mà ông gọi là hắn. Thật ra thì chỉ có tôi ông mới dám trút hết những điều mà ông không thể thổ lộ ra cùng người nào khác được. Liền sau những câu nói, ông kéo áo lên cho tôi thấy hai vết sẹo hằn trên lưng kéo dài lên đến tận vai tạo thành hai đường thẳng song song... vẫn luôn ửng một màu đỏ. Ông nói tiếp:

“Vết sẹo trên lưng tôi không phải là sẹo thật. Tôi muốn làm như vậy mỗi lần phải trở về lại Saigon để tưởng nhớ lại một lần tôi bị bọn hắn chém nhưng may mắn thoát chết. Trước khi bị chém tôi đã kịp nằm xuống để tránh lưỡi dao vì bọn hắn cố ý chém vô đầu. Nhưng, may mắn là tôi đã kịp lấy tấm tôn và che lên đầu. Khi không chém được vô đầu thì bọn chúng liền chém vô lưng. Khắp người tôi có rất nhiều vết sẹo. Sẹo do dao chém, sẹo do súng đạn của kẻ thù bắn. Nhưng, có một vết sẹo đã hằn sâu trong trái tim tôi làm cho tôi cứ bị đau đớn mãi; vết sẹo đó thì tôi không thể trưng ra cho anh thấy được.

Tôi muốn kể cho anh nghe vì sao tôi lại có nhiều vết sẹo đến như vậy. Nhưng, chỉ có một vết sẹo làm cho tôi bị đau đớn dằng dai mà thôi. Một ngày đầu xuân 1968 và từ vùng hỏa tuyến, vùng biên giới mà tôi đang làm nhiệm vụ giữ an ninh. Biên giới giữa chúng ta và kẻ thù đã được các cường quốc phân định lằn ranh là con sông Bến Hải. Nhưng, kẻ thù thì luôn luôn và bất cứ thời điểm nào cũng muốn tấn công, muốn xâm lăng qua phần đất bên này. Tôi bị thương nặng và được chuyển tiếp đến Tổng Y Viện Cộng Hoà. Saigon ngày đầu xuân khắp nơi đang tràn ngập những bông hoa rực rỡ khoe sắc trong ánh mặt trời chói lọi nhưng nồng ấm, hòa cùng âm thanh rộn rã của tiếng pháo tiếng người và xe cộ trên đường phố tạo thành bản tình ca bất hủ ghi khắc sâu đậm trong lòng người… Bỗng dưng miền Nam trở thành tang tóc với những thây người và máu chảy thành sông do kẻ thù gây ra.

Sau khi rời bệnh viện tôi được gặp lại bạn bè và sau đó tôi được gặp hắn. Một người bạn của tôi và lớn hơn tôi vài tuổi nhưng có thân hình lực lưỡng, một thân hình làm cho các quý bà có cuộc sống vợ chồng không được trọn vẹn phải mơ ước. Người bạn đó nói với tôi là hắn cũng có tên tuổi đàng hoàng… cũng thuộc giòng dõi khoa bảng nhưng mọi người lại gọi hắn là thằng lập... dị hợm. Khi gặp hắn lần đầu tôi thấy đúng là tôi đang đứng trước một người lập dị thật. Hắn không như tôi, không như nhiều trăm ngàn thanh niên khác, đã và vẫn đang hiên ngang cầm súng chiến đấu để ngăn chận kẻ thù với dã tâm cướp nước. Hắn được yên thân ăn học, được tự do muốn đi đâu và muốn làm gì thì làm. Hắn được tự do yêu... trong không khí thanh bình giữa thủ đô không còn chiến tranh vì kẻ thù đã bị đánh đuổi khỏi thành phố nên không có tiếng súng. Hắn không biết mang ơn những người đã bỏ thân ngoài chiến trường, mà lại giở trò viết nhạc và nghiên cứu những chủ thuyết xa lạ rồi tụ tập những tên bị kẻ thù mê hoặc để chống lại chính phủ, chống lại những người đang cho hắn và nhóm bạn của hắn cơ hội sống và cơ hội được làm việc với tiền lương đủ nuôi cả gia đình. Hắn đi đâu cũng ôm kè kè bên mình một chồng sách dầy cộm và những tập nhạc viết dở dang mà tôi thì không hiểu hắn nghiên cứu cái gì trong những quyển sách dầy và đầy chữ đó. Hắn tỏ ra bực mình khi nghe người ta nói là hắn đang làm dáng để tỏ cho mọi người thấy hắn thông thái hơn người. Tôi ở gần hắn nên tôi biết đó là điều mà mọi người nói rất đúng về hắn. Hắn luôn tỏ ra ngạo mạn vì cho rằng, mọi người đã sai lầm khi chịu nhẫn nhục sống trong cái xã hội hiện tại và chấp nhận chính phủ hiện tại, mà, theo hắn thì đó là chính phủ tay sai cho Mỹ. Hắn đã nhiều lần nói với tôi là: “Xã hội tốt đẹp nhất là phải tạo ra công ăn việc làm cho từng mỗi một con người. Qua đó, người làm nhiều thì hưởng nhiều, người làm ít thì hưởng ít, không làm gì hết thì... nhịn. Xã hội đó không cần phải có tòa án nên không cần có trường dạy luật vì mọi người đều bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.”  Tôi cũng đã nhiều lần trả lời hắn là: “Không bao giờ. Không bao giờ có một xã hội nào như anh mơ ước sẽ hiện diện trên quả địa cầu này. Xã hội mà chúng ta đang sống là xã hội nhân văn vì mọi người trong gia đình luôn thương yêu và đùm bọc lẫn nhau. Chỉ cần một hoặc hai người trong gia đình đi làm thôi thì cũng đã có thể bảo bọc cả gia đình sinh sống ngày ba bữa ăn cùng trang trải những nhu cầu khác.  Xã hội mà anh mơ ước là xã hội giả dối mà mọi con người sẽ dùng thủ đoạn để hãm hại để lường gạt và cướp bóc lẫn nhau.” Nhưng, hắn giả điếc và không muốn nghe tôi nói. Hắn ca ngợi và cổ vũ cho những người ở bên kia chiến tuyến mau sớm đánh bại cái chính phủ đang dung dưỡng hắn. Hắn cho rằng một cuộc cách mạng phải được tiến hành đồng thời với lòng hận thù sâu đậm và tàn nhẫn thì mới mau đem đến thành công. Hắn biện minh cho việc ám sát các nhân viên của chính phủ. Hắn biện minh cho việc pháo kích bừa bãi vô những khu đông dân cư là điều cần thiết cho cuộc cách mạng. Hắn và tôi thường thảo luận ở bất cứ nơi nào và khi nào, kể cả những khi đêm khuya cần sự yên tĩnh cho mọi người mà tôi thì chỉ muốn cho hắn nhìn thấy sự tuyên truyền xảo trá và sự tàn ác dã man của những người bên kia chiến tuyến đối với những người cùng dòng máu mà hắn đang hết lòng ủng hộ và hết lời ca ngợi. Trong những cuộc thảo luận đầy tình người của những người cùng có trình độ và tấm lòng yêu dân tộc và quê hương. Nhưng, cuối cùng thì luôn luôn hắn tỏ vẻ ngạo mạn và tỏ ra tức giận. Hắn phê phán quân đội quốc gia chỉ là đám lính đánh thuê và rằng kẻ thù mới có chính nghĩa.

Có một lần đang cùng đi trên đường phố, hắn và tôi nhìn thấy một chiếc xe chở quan tài người lính chết trận chạy ngang trước mặt. Tôi hỏi hắn:

“Người lính đó còn sống hay đã chết rồi?”

Hắn nhìn tôi với vẻ mặt ngạc nhiên rồi nhìn theo chiếc xe chở quan tài và nói:

“Làm sao một người nằm trong quan tài từ mặt trận đưa về và đã qua một thời gian lại còn sống được chứ.”

Tôi cười và nói với vẻ quả quyết:

“Tôi nghĩ người lính – những người lính Việt Nam Cộng Hòa – nằm trong quan tài sau khi đã làm một việc can đảm là cầm súng chiến đấu với kẻ thù đến quên cả thân mình để giữ an bình cho mọi người, trong đó có anh và gia đình anh, thì, họ sẽ lưu lại hình ảnh tốt đẹp và oai hùng trong lòng mọi người đến muôn thuở muôn đời. Như vậy người lính đó vẫn còn sống.”

Một hôm hắn đưa tôi đến Viện Đại Học Sàigòn để nghe hắn và nhóm bạn của hắn nói về những ngày tươi sáng một khi ‘cách mạng’ thành công. Có những người gọi là trí thức và cả những người lãnh đạo các tôn giáo cũng cùng tham dự. Đa số người đến tham dự là những người hám danh hám quyền nên tưởng bọn người của hắn là tinh hoa của dân tộc nên hết lòng ủng hộ. Hắn không phải là người mẫu mực để nêu gương cho người khác. Trái lại, ở đây giống như bãi chiến trường mà mỗi người trong bọn hắn là một vị chỉ huy. Một nhóm sinh viên đối lập và yêu nước thật sự đã lấy bàn ghế của phòng họp quăng về phía nhóm của hắn. Sự hỗn loạn mà tôi chắc chắn sẽ đưa đến đổ máu diễn ra ngay sau những đường bay của các cái ghế và những cái bàn. Thế là tôi kéo hắn chạy tránh xa chỗ đang diễn ra cảnh chẳng khác gì ngoài chiến trường, chỉ có điều là ở đây không có những tiếng nổ. Hắn phản đối và nói không đi đâu hết vì hắn muốn, sau khi nói chuyện xong sẽ còn phải hát “cho đồng bào tôi nghe.” Tôi biết những lời hát đó chỉ là những lời kích động mọi người chống lại cuộc chiến tranh đã quá lâu dài làm nhiều gia đình phải ly tan. Tại sao hắn lại không có một chút nào tỏ ra e ngại hay sợ hãi? Trái lại hắn tỏ rõ bản tính cao ngạo cho mọi người nhìn thấy… Thì ra, sở dĩ hắn và nhóm bạn của hắn không sợ bất cứ người nào của chính phủ hoặc chướng ngại vật nào, chỉ vì, thứ nhất, chính phủ đã cho mọi người dân được hưởng quyền tự do quá rộng rãi, kể cả quyền được biểu tình và phê phán chính phủ. Điều thứ hai là, có vị Tướng ‘gà mờ chính trị’ luôn sẵn sàng đưa hai tay ra cứu rỗi mỗi khi hắn và đồng bọn bị nguy khốn.

Tôi hỏi ngay khi ông vừa ngưng nói và đang nuốt nước miếng:

“Làm sao ông biết được vị Tướng đó… gà mờ chính trị?”

Ông trợn tròn hai con mắt nhìn tôi như không tin là tôi không biết tại sao. Ông nói:

“Thì… chính ông ta đã xác nhận về sau này mà. Ông ta nói trước các ký giả phỏng vấn là: “Tôi ít học và cũng không rành về chính trị.” Cũng vì ít học và... gà mờ nên sau này ông Tướng đã... mừng húm khi được kẻ thù chìa tay ra cho  bắt. Thật ra thì kẻ thù chỉ muốn… qua ông để thực hiện cái nghị quyết 36 kiểu chơi sao cho được người Việt ở khắp nơi trên thế giới cùng hưởng ứng cùng chơi và, cùng hòa một nhịp với nhà cầm quyền. Họ cảm thấy ‘nhức nhối’ vì người Việt trên toàn thế giới quyết tâm chống đối họ đến cùng. Nhưng, ông Tướng thì lại… tưởng bở là, kẻ thù cần ông để phát triển kinh tế vì ông đang có những giao tiếp rất rộng rãi và chặt chẽ với những nhà tài phiệt của Mỹ. Ông Tướng về Việt Nam và tuyên bố lăng nhăng như ông từng tuyên bố lăng nhăng khi đang cầm quyền nên bị người Việt tỵ nạn chống lại. Thế là, thay vì suy nghĩ lại là tại sao mình bị chống đối, thì vì ông là gà mờ về chính trị nên ông đã quay lại chửi những người đã từng ủng hộ ông là:  “Nói lăng nhăng là một lũ phản quốc.” Thế là kẻ thù… mất hứng vì ông đã làm hư hết kế hoạch của họ. Và, thay vì dùng ông trong những công tác khác thì họ không còn đếm xỉa gì đến ông nữa. Họ cho ông tự do ra vô trong nước. Và, có lẽ ông cũng đã cảm được mình không còn là… con cờ hữu dụng nữa nên ông chuyển qua một quốc gia Á châu khác để sống những ngày tàn. Khi ông từ trần là bọn họ liền trừng phạt ông bằng cách không cho đem cái xác thối tha của ông về chôn trong nước. Họ còn cho bọn văn nô viết bài để làm nhục ông với tựa đề: “Đứa con hư đã trở về.” Đó là điều hết sức nhục nhã mà sử sách sẽ ghi lại để ngàn đời sau con cháu của chúng ta không quên là, một trong những lý do để miền Nam Việt Nam mất về tay cộng sản cũng vì chúng ta có những vị lãnh đạo quá ngu xuẩn về chính trị. Chính ông tướng này vào năm 1966 - 1967 đã định ra luật tử hình với những người lính đào ngũ. Nhưng, Mỹ không chấp nhận cho ông làm điều ác và ngu xuẩn đó nên ông chỉ tử hình được một tay thương gia người Tàu thôi. Theo một vị Tướng Do Thái tên là Moshe Dayan khi đến thăm miền Nam Việt Nam, ông Tướng Do Thái đã hết sức ngạc nhiên khi nghe ông tướng gà mờ về chính trị, khi đó đang ở vị trí Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp̣ Trung Ương – tức Thủ Tướng – bày tỏ sự ngưỡng mộ với viên đại tướng của Việt cộng, ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng mà ai ai cũng biết ông này được điều khiển bởi bọn Tàu.”

Tôi khen thật lòng:

“Ông quả là tay... Ông biết nhiều quá.”

“Cám ơn lời khen của anh. Nhưng tôi biết thằng Lập... dị hợm này rất rõ anh à. Tôi kể tiếp anh nghe nhé. Thế rồi ông Tướng đó đã đưa nhóm của hắn về dinh của ông ta trú ngụ. Nhờ ở trong dinh của viên Tướng uy quyền thứ hai của đất nước nên có ai dám hó hé gì đâu. Dinh của ông Tướng thì to lớn và dĩ nhiên là có rất nhiều phòng dư chỗ cho bọn hắn. Ngoài ra trong các phòng còn có rất nhiều sách mà phần nhiều là để trưng cho oai thôi chứ tôi chẳng thấy ai lấy đọc cả. Tôi đã nói với hắn là: “Trong cuộc chiến cướp nước và cướp của này, rồi ra sẽ có thể – có thể thôi – chúng tôi sẽ thua chỉ vì chúng tôi có vị Tướng lãnh gà mờ đang nắm vận mạng đất nước và chỉ huy binh sĩ.” Hắn gật đầu như tán thành lời tôi và, đây là lần duy nhất hắn đồng ý với tôi. Những ngày ở trong dinh ông Tướng hắn tha hồ tung hoành và ra sức sáng tác những bản nhạc gọi là để ‘hát cho đồng bào hắn nghe.’ Thế rồi... Kết cuộc chỉ có năm mươi lăm ngày đêm thì miền Nam với thủ đô Saigon đã bị những con người man rợ tràn ngập. Những tên lính với vẻ mặt ngơ ngác nhìn thủ đô giàu có mà thèm thuồng đến chảy cả nước miếng. Những tên lính mà mới hơn tháng trước còn trốn chui trốn nhủi giữa rừng già và đói khát thì nay tỏa ra khắp các ngỏ trong thủ đô để lùng sục bắt người và chiếm đoạt của cải. Tháng đầu tiên thành phố có rất nhiều xác chết bị kéo bỏ ngoài đường lộ bởi sự cộng tác của bọn chỉ điểm mặt mẹt được gọi là, “cách mạng ba mươi.”. Và, thật xui cho tôi là trong lúc quá thất vọng nên tôi đi lang thang khắp nơi trong thành phố để xem bạn bè ai còn ai mất thì… đụng mặt hắn. Hắn đã đề nghị bắt giữ tôi. Thấy nguy, tôi liền bỏ chạy và thế là hắn và bọn mặt mẹt đuổi theo tôi đến khu nhà của tôi. Tên mặt mẹt là hắn biết rất rõ về khu nhà này nên chia nhau bao vây mọi con hẻm. Đang đi trên mái nhà thì thình lình chân tôi đạp lên miếng ngói đã lung lay rời rạc làm cho người chủ nhà sợ quá nên la lên thật lớn. Tôi đang loay hoay tìm chỗ trốn thì, chính lúc đó bọn hắn xuất hiện. Tôi chạy đến góc của sân thượng căn nhà mà người chủ đã kịp bỏ đi trước khi lũ man rợ kéo đến. Tôi chộp được một khúc cây để làm ra vẻ sẵn sàng sống chết với bọn hắn cho bọn hắn sợ. Nhưng, một tên trong bọn có cầm theo con dao dài giống như cây mã tấu và lao tới chém vô đầu tôi. May mắn thay tôi đã kịp nằm xuống và kéo tấm tôn để che thân. Tôi nằm giả chết và một lúc thật lâu sau thì bọn hắn bỏ đi.

“Tên... hèn nhát đó rồi ra sao?” - Tôi hỏi.

Ông cười nửa miệng như với vẻ khinh bỉ và trả lời tôi:

“Tên hèn nhát đó được thưởng công cho làm… nhân viên của cái gọi là Sở Văn Hóa - Thông Tin thành phố. Chỉ là nhân viên thôi chứ chẳng phải chức vụ gì cao sang cả.”

Ông ngưng lại như để cố nhớ những chi tiết đã quá lâu theo thời gian mà tôi thì thấy rõ câu chuyện của ông có rất nhiều điều thú vị. Ông nói tiếp:                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           

“Từ ngày đó cho đến nay tôi chưa thấy ngày nào là ngày vui thật sự cả. Hơn bốn mươi năm trôi qua rồi mà người Việt Nam vẫn còn thù hận nhau như thuở đất nước bị chia đôi. Vẫn là những tháng ngày buồn vì đa số người dân… quên cười khi bị cướp đất cướp nhà nên cái nghèo và thiếu ăn luôn hiện hữu. Của cải, đất đai của người luôn bị nhà cầm quyền hăm he cướp lấy bằng một thứ luật rừng. Dưới chính thể Cộng Hòa chưa có một người dân nào bị tòa án xử oan đến phải nhảy lầu tự tử vì những người cầm cán cân công lý đều là những người có học thức thật sự với  bằng cấp thật sự. Và, đó chính là vết sẹo đau nhất trong người tôi. Vết sẹo ghi hằn lên trái tim tôi mà chưa biết đến khi nào mới phai mờ. Nhưng, cũng nhờ bởi có những sự cướp đoạt trắng trợn đó mà thế giới đã hiểu rõ hơn về quân dân Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta tự hào rằng, chính chúng ta mới có chính nghĩa.”

***

Cuộc gặp gỡ giữa ông và tôi ngày tôi trở về thăm quê hương và  được nghe câu chuyện từ miệng một người trong cuộc nói ra mà giờ đây như vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Chuyện đau buồn của quê hương dù đã qua lâu, nhưng ông, và đồng bào miền Nam khó quên được bởi lòng hận thù mà nhà cầm quyền vẫn cố tình dung dưỡng bằng những đối xử bất công như cướp đất cướp nhà của đồng bào xảy ra thường xuyên thì làm sao quên được.

Bây giờ ông đã ra sao rồi? Ông vẫn bị cái sẹo hành hạ – dĩ nhiên – nhưng bản thân ông có được bình an không? Tôi luôn cầu nguyện và chúc ông may mắn. Tôi hy vọng một ngày không xa nữa vết sẹo sẽ thôi làm ông đau đớn. Tôi nghĩ, vết sẹo của ông cũng là vết sẹo của những người Việt Nam còn mang trái tim của con người.

.

Topa (Hòa Lan)

 

Direct link: http://www.caidinh.com/trangluu1/vanhocnghethuat/van/vetseo.htm


Cái Đình - 2020