Nguyễn Hiền


Phỏng vấn ông Nguyễn Thanh Hùng

Trong khuôn khổ dự án thu thập dữ liệu để hình thành một bức tranh tổng quát tương đối đa diện của Cựu Thuyền Nhân Việt Nam đang định cư tại Hòa Lan, dưới đây là cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Thanh Hùng (NTH), một thuyền nhân hiện đang sống tại thành phố Delft. Cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi ông Nguyễn Hiền (NH).

***

NH: Chào anh Nguyễn Thanh Hùng, để mở đầu cuộc phỏng vấn, xin anh cho biết anh đã tới Hòa Lan khi nào, và bằng cách nào? Lý do nào anh đã ra đi?

NTH: Tôi đến Hòa Lan vào ngày 13 tháng 10 năm 1980. Tôi là một thuyền nhân, vượt biên khỏi Việt Nam ngày 2-8-1980, được tàu Nedlloyd Dejima Hòa Lan vớt sau 3 ngày lênh đênh không nước không lương thực trên biển cả.

Năm 1979, một người bạn thân trong lớp tên Thạnh, lớn hơn tôi 1 tuổi, bị kêu đi nghĩa vụ quân sự. Sau 3 tháng đào luyện ở Núi Xanh, Bà Rịa nó được về phép thăm nhà trước khi sang Kampuchia. Tôi nhớ mãi buổi tiệc tiễn nó ra đi đó. Cả đám học sinh được ba má Thạnh cho hát hò, uống bia thả giàn. Đó là lần đầu tiên chúng tôi biết thế nào là say rượu bia. Chưa tới một tháng sau, ngay trận đánh đầu tiên ở Sa Mác, Thạnh đã tử trận. Nó đạp nhằm mìn, nổ banh xác theo lời đồng đội kể lại. Đó là một biến cố lớn, chấm dứt thời thơ ấu khá bình yên của tôi, một đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở thủ đô Sài gòn. Cũng như các bạn, tôi quyết định bỏ học, rồi tìm đường vượt biên.

.

NH: năm 2007 anh đã trả lời cho một video thực hiện bởi một học sinh ở Bussum về thuyền nhân Việt Nam, anh nói là khi nghĩ lại về chuyến đi anh cảm thấy mình ‘may mắn’ (citeert: geluk), vì nhiều người khác không đến được bến bờ. Bây giờ khi nghĩ về những chuyến đi gian khổ ấy anh cảm thấy thế nào?

NTH: Anh Hiền hay thật, biết được chuyện làm video này. Học sinh đó là cháu Linh, con gái đầu của chị Nguyễn Thụy Lãnh, cũng ở chung trại tỵ nạn Bussum năm 1980.  

Thật sự, ít khi tôi nghĩ về chuyện vượt biên, nhất là thời gian mới tới Hòa Lan. Kinh nghiệm 3 ngày đói khát trên biển, cận kề cái chết hãy còn mới mẻ, kinh khủng quá. Còn bây giờ, mỗi lần nghĩ đến thì quả thật, trong lòng lại tràn ngập sự biết ơn. Nhận thức mình may mắn, vô cùng may mắn. Biết bao nhiêu người đã ra đi, mà có mấy người đến được bến bờ tự do. Còn nhớ lúc leo lên, ngồi được bên trong ghe vượt biên, hay lúc ghe ra khỏi cửa Vũng Tàu thì mừng rỡ. Nhưng đến khi ra ngoài khơi, ghe hết xăng chết máy, mà trên ghe không có nước uống, thì trong lòng lại tràn ngập sợ hãi. Mà biển cả thì mênh mông!  

Và may mắn nữa là được định cư ở đất nước Hòa Lan. Một quốc gia văn minh, tôn trọng tự do, dân chủ, thịnh vượng hàng đầu của thế giới.

.

NH: Anh tới Hòa Lan lúc còn rất trẻ. Anh bắt đầu cuộc sống nơi đây ra sao? Anh có gặp nhiều khó khăn trong trường để có thể theo kịp các bạn Hòa Lan cùng lớp hay không?

NTH: Những năm tháng đầu tiên ở Hòa Lan là một quãng thời gian vô cùng đặc biệt. Vừa hoang mang bỡ ngỡ, vừa phiêu lưu hào hứng như một cuộc mạo hiểm. Không có cha mẹ anh em bên cạnh, nhưng bù lại, có rất nhiều bạn bè mới, cùng hoàn cảnh vượt biên chung, cùng ở chung trại tỵ nạn. Cạnh đó, rất nhiều người Hòa Lan hảo tâm đã đến giúp đỡ và làm quen với những thuyền nhân – ‘boat people’ – đầu tiên đến từ Việt Nam. Quan hệ giữa người bản xứ và di dân rất thân thiện, không phải như bây giờ, năm 2021!    

Là học sinh trường Lasan Taberd, được học tiếng Pháp từ nhỏ, nên tôi tiếp nhận sinh ngữ bản địa khá nhanh chóng. Sau 400 giờ học tiếng HL ở trại tỵ nạn, tôi được vào một trung học công giáo, trường Vitus college ở Bussum.

Sau đó tôi học mỹ thuật, vì say mê hội họa. Học trầy vi tróc vẩy! Tôi đến từ Việt Nam, khác chi như đến từ sao Hỏa! Tiếng HL sau vài năm chưa đủ giỏi, mà thế giới mỹ thuật đòi hỏi sự tiếp cận văn hóa và một khả năng ngôn ngữ rất cao để trao đổi, tranh luận. Và thật sự, tôi cũng không chắc chắn lắm về tài năng hội họa của mình. Vẽ chơi thì được, chứ sống như một họa sĩ thực thụ lại là một chuyện khác… Vì thế, khi thành phố Utrecht tổ chức một khóa đào tạo lập trình viên điện toán – programmeurs, thì tôi ghi danh theo học và tốt nghiệp năm 1989. Sau đó là đi làm cho tới thời gian gần đây thì xin nghỉ.

.

NH: Sau khi tốt nghiệp, anh đã làm ở những đâu? Nơi nào anh cảm thấy thoải mái nhất về tinh thần? Vì sao?

NTH: Thú thực, khi bắt đầu đi làm, tôi vẫn đinh ninh chỉ làm trong một thời gian ngắn rồi thôi. Tôi không thích công việc trong văn phòng! Những năm tháng ở trường Cao đẳng mỹ thuật đã dạy cho tôi yêu thích sự tự do bay nhảy rồi (cười lớn)... Thế nhưng tôi vẫn tiếp tục làm, một phần vì ngành điện toán thời khởi đầu có những thách thức khá thú vị. Tôi thích khoa học tự nhiên, nên việc lập trình, phân tích, viết những chương trình hay hệ thống xử lý thông tin số liệu đối với tôi là một công việc không đến nỗi nhàm chán. Lương bổng trong ngành IT lại quá tốt nữa nên cứ thế mà tôi ở lại.

Tôi đã làm việc với những máy tính lớn (mainframes) cho bộ quốc phòng ở DenHaag, cho hãng bảo hiểm Interpolis Rotterdam, cho ngân hàng ING Amsterdam, và viện khoa học áp dụng TNO ở Delft. Những năm tháng ở TNO đối với tôi là thích nhất, vì mỗi ngày tôi có thể đạp xe đạp nửa tiếng đến hãng, đi xuyên qua phố cổ Delft rất đẹp và cổ kính, như một người du khách. Cạnh đó, tôi xin được việc làm bán thời gian, mỗi tuần chỉ làm việc có 4 ngày nên có rất nhiều thì giờ để chơi!

Con gái đầu Nguyễn Nam Chi, Bas van ‘t Hooft, Nguyễn Chi Mai, Nguyễn Thanh Hùng và Bùi Tố Nga,
ngày Chi Mai tốt nghiệp cao học Y khoa, Rotterdam 24-7-2019

.

NH: Tôi biết anh qua hình ảnh một nghệ sĩ phóng khoáng. Anh viết truyện ngắn, làm thơ, chơi nhạc, thỉnh thoảng vẽ vài bức thủy mạc. Những sở thích này anh phát hiện ra khi ở Hòa Lan hoặc đã có từ khi còn ở Việt Nam?

NTH: Ba tôi là một người thích đọc sách, nên nhà tôi có một tủ sách khá lớn nhiều thể loại. Anh em chúng tôi ngấu nghiến đọc tất cả. Mẹ tôi thích nhạc tiền chiến, biết chơi mandoline, yêu ca dao. Lúc còn nhỏ, mỗi buổi trưa tôi đều lim dim nằm nghe tiếng mẹ tôi đưa võng mấy đứa em, cất giọng ru Bắc à ơi, nhẹ nhàng tha thiết vô tả. Các bác và cậu tôi cũng yêu thích văn nghệ, đặc biệt cậu Nam tôi là sĩ quan ngành tuyên huấn, hát hay, chơi giỏi đàn ghi ta và thổi khẩu cầm rất tài, có thể vừa thổi kèn bằng mũi vừa ăn trái chuối được! (Cười) Ảnh hưởng những vị đó, nên tôi cũng viết lách, đàn hát, vẽ vời lai rai. Với lại, đi làm bán thời gian nên thời gian rảnh rang nhiều. Tất cả chỉ là vui thôi, không có mục đích làm văn nghệ gì cả.

.

NH: Trong các nhạc cụ dân gian Việt Nam mà anh đã dày công sưu tập được, có những nhạc cụ nào cổ hoặc độc đáo không? Làm sao anh có được những nhạc cụ này? Anh có thể kể một vài kỷ niệm đáng ghi nhớ trong bước đường sưu tầm của anh?

NTH: Âm nhạc và nhạc khí cổ truyền là một yêu thích lớn! Tôi có ân huệ được học với thầy Vĩnh Bảo, cây đại thụ và danh cầm của truyền thống nhạc Tài tử từ năm 1991. Thầy vừa mới mất ngày 7 tháng 1 năm 2021, thọ 103 tuổi. Trong 30 năm học với thầy, tôi được thầy để lại 5 cây đàn tranh, 1 cây đàn kìm (nguyệt), một cây đàn gáo, và 2 ống tiêu. Gọi là để lại, vì mỗi lần về thăm, đến học, gửi tiền học thì thầy không nhận nên phải nói là xin để lại cây đàn do chính tay thầy đóng lấy. 5 cây đàn tranh đó, cây xưa cũ nhất làm từ năm 1960 bằng gỗ kiri tức gỗ ngô đồng nhập từ Nhật bản, cây mới nhất làm năm 2018 lúc thầy được 100 tuổi. 5 cây đàn đó là dấu tích của hơn nửa thế kỷ tìm tòi và công khó cải tiến cây đàn tranh của người làm đàn tranh và chơi đàn tranh hay nhất nước Việt Nam như lời GS Trần văn Khê nhận định năm 1988 ở Hoà Lan. Đó là những cây đàn vừa đẹp, vừa tốt, tiếng rất hay, đối với tôi là một gia tài vô giá.  

Tôi cũng được quen biết nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, danh cầm của cố đô Huế, những năm tháng cuối đời ông ở Sài gòn, trong một hẻm nhỏ đường Công Lý cũ. Ông để lại cho tôi 2 bộ sinh tiền làm theo lối xưa, những đồng tiền Tự Đức thông bảo vang rất dòn, nhộn nhịp. Tôi cũng được quen một nghệ nhân ca Huế, hát và chơi phách thật độc đáo. Chị để lại cho tôi một bộ phách gia truyền. Chỉ hai mảnh gỗ đẽo gọt láng bóng, cũ kỹ mà âm thanh tuyệt hay, vừa đanh vừa ấm.

Còn nhiều lắm, nói về nhạc cụ thì vài tiếng đồng hồ không đủ. Nhưng xin kể về cây kèn bầu và chiếc đàn nhị của cụ Ngộ, là một người trong ban nhạc Hiếu (nhạc đám ma) miền Bắc, di cư vào nam năm 1954. Nhà cụ ở gần nhà Nga, vợ tôi, một căn nhà gỗ nhỏ trong một cái vườn rất rộng trồng nhiều cội mai già, dịp Tết nở vàng rực. Cụ kể về cách khóc bằng kèn bầu với bài Lâm Khốc, tạo tiếng nấc nức nở bằng cách kéo vĩ đàn, về các điệu khóc trong đám ma; con khóc cha, khóc mẹ khác, cha mẹ khóc con, tre khóc măng khác, anh chị khóc em như thế nào. Mỗi lần tập kèn, tập nhị là phải ra nơi tha ma, nghĩa địa để tập, không được tập ở nhà vì kiêng kỵ. Cụ cẩn thận chỉ tôi cách làm dăm kèn, đó là bộ phận quan trọng để thổi làm bằng cỏ tranh. Có lần cao hứng cụ biểu diễn một số bài bản, báo hại con cái trong nhà khua bát khua đũa ầm ĩ. Khi ra về người con của cụ còn hầm hầm nhìn tôi, rồi hất một thau nước ra trước cửa để đuổi tà.

Vậy mà chính người con trai đó đã mang trao lại cho gia đình Nga cây kèn bầu và cây đàn nhị, theo lời di chúc của cụ trước khi mất, cùng một cái băng casette thâu những bài nhạc đám ma xưa cũ. Đó là những bài bản đám ma có phong cách trình tấu thật cổ truyền và rất truyền thống.

.

NH: Vợ chồng anh đã từng có nhiều buổi trình diễn nhạc dân gian Việt Nam. Trong những buổi trình diễn do người Hòa Lan tổ chức, tôi nhận thấy thiếu vắng sự tham dự của người Việt. Lý do vì sao?

NTH: Có thể mình chơi không lọt lỗ tai người ta… (cười). Theo tôi, từ lối hát ả đào ngoài Bắc, đến ca Huế hay đờn ca tài tử miền Nam, đều là một loại nhạc thính phòng đúng nghĩa, dành cho một nhóm nhỏ. Số lượng bài bản không nhiều, nhạc khí cũng hạn chế. Vài người chơi đàn, vài bạn tri kỷ ngồi nghe, vừa đủ trên một cái phản gỗ, trong một căn phòng nhỏ, hay một khoang thuyền nhỏ trên sông. Cách thưởng thức âm nhạc nhẹ nhàng thân mật, trong vòng quen biết. Âm nhạc cổ truyền không được phổ biến từ trong nước, thành ra nó không có nhiều khán giả, rầm rộ như các nhạc hội bên tân nhạc. Sang bên này thì cũng vậy thôi, không khác được.

.

NH: Như tôi được biết, trong một lần anh đến trình diễn nhạc cho chương trình kỷ niệm của MCNV, lúc ấy Cộng đồng Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hòa Lan (AVVN) là những thuyền nhân như anh đến phản đối hoạt động của MCNV (như anh Đáo trả lời phỏng vấn là tổ chức thiên tả này chỉ giúp miền bắc). Lúc ấy anh cảm thấy thế nào?

NTH: Hội MCNV là một tổ chức y tế của người HL giúp người Việt, phần lớn là trẻ em và nạn nhân chiến tranh. Một số người thành lập có khuynh hướng thiên tả, điều đó đúng nhưng đó là quyền tự do của họ, tôi tôn trọng. Họ giúp đỡ cho đồng bào mình thì tôi biết ơn. Buổi trình diễn đó cũng là dịp quyên góp tiền học phí cho Ngô Hồng Quang, một du học sinh ngành âm nhạc đến từ Hà Nội. Em này là một nghệ sĩ hát hay, chơi được nhiều nhạc khí dân tộc.  Vì sự phản đối của AVVN mà nhiều đồng hương không dám đến dự buổi trình diễn, thật là uổng! Sau khi tốt nghiệp nhạc viện DenHaag, Quang đã tìm cách ở lại Châu Âu, tiếp tục trình diễn nhạc ở nhiều nơi trong đó có Thúy Nga by night, làm mới dân ca như một nghệ sĩ, hoàn toàn phi chính trị. Đáng lẽ chúng ta phải mừng mới phải, là nhờ được sống ở một quốc gia tự do, một nghệ sĩ VN mới có cơ hội thi thố tài năng!

.

NH: Dường như anh rất ít tham gia vào các hoạt động do CĐVNTNCS/HL tổ chức. Lý do vì sao?

NTH: Điều này không đúng lắm. Vào khoảng thời gian 1985 - 1995, tôi đã tham gia vào nhiều hoạt động của cộng đồng, viết bài cho tờ VNNS, là thành viên trong nhóm Lê Lai, phụ giúp các trại hè thiếu nhi vv. Điều nữa là từ năm 2000, tôi bắt đầu nuôi ong, làm tình nguyện ở vườn thiên nhiên, tham gia vào nhiều hội đoàn bảo vệ môi trường địa phương nên khá bận rộn.

.

NH: Nếu vậy, anh có ý định tham gia các buổi lễ hội do CĐVNTNCS/HL tổ chức hoặc làm cái gì đó cho cộng đồng người Việt tại Hoà Lan (theo nghĩa rộng) hay không, và ở lãnh vực nào?

NTH: Nếu cộng đồng có tổ chức lễ hội gì thì tôi tham gia chứ. Và nếu có thể đóng góp gì được thì tôi sẵn sàng đóng góp hết khả năng của tôi. Theo tôi nhận xét, thì CĐVNTNCS/HL đã được thành lập do lớp người tỵ nạn từ miền Nam từ năm 1979, 80. Đến nay, tình hình sinh sống của người Việt trên đất nước HL đã thay đổi nhiều. Có những thuyền nhân tỵ nạn đến từ miền Bắc qua ngõ Hồng Kông, rất nhiều người qua ngõ Đông Âu. Từ khoảng 15 năm gần đây, một số du học sinh, nghiên cứu sinh đến HL học tập và sau đó tìm cách ở lại. Rồi con cháu chúng ta về VN lập gia đình, hay người HL về VN lập gia đình rồi bảo lãnh vợ/chồng sang HL sinh sống. Qua đó, số lượng người VN tại HL đã tăng rất đáng kể, và đa dạng về thành phần.  

Tôi hy vọng CĐVNTNCS/HL có khả năng mở vòng tay lớn, đón nhận tất cả các nhóm đồng hương này, không phân biệt gốc gác quá khứ. Để thật sự là một tập hợp dân chủ và nhân bản, để có thể đối thoại với chính quyền trong nước về các vấn đề nhân quyền, dân chủ, phát triển y tế, từ thiện. Trong tương lai, có thể một số người VN lớn tuổi muốn được về VN dưỡng già, sống phần đời còn lại trên đất nước. Chúng ta phải tranh đấu để họ được đối xử như công dân Việt Nam, với tất cả quyền lợi của một công dân Hoà Lan.

Có nhiều việc chúng ta có thể làm được và cần làm ngay. Việc cấp bách nhất là ngăn chận làn sóng buôn người từ Việt nam sang Âu châu. Năm vừa qua, 39 thanh thiếu niên người Việt đã chết ngạt trong một xe vận tải bên Anh quốc. Đó là những cái chết vô cùng oan uổng và là một cái nhục lớn cho người Việt Nam chúng ta.

.

NH: Phong thái trình diễn nhạc dân tộc và những tác phẩm nghệ thuật của anh luôn toát ra một nét ung dung tự tại. Nhiều bạn ở Hòa Lan đã tặng anh biệt danh “Hùng Thiền”. Sau này tôi biết anh đã từng đi sâu vào hướng tu tập của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và đã nhiều lần tiếp xúc với Thầy cùng các tăng thân Làng Mai thân cận với Thầy. Cơ duyên nào đã đưa anh đến với Thầy, vì anh xuất thân từ một gia đình Công Giáo thuần thành?

NTH: Tôi may mắn được biết tiếng thầy Nhất Hạnh từ hồi ở Việt Nam qua tác phẩm Nói với tuổi hai mươi. Đến khi sang HL, tôi được đọc thêm một số tác phẩm khác và tôi quyết định đi tìm gặp vị thầy này vào năm 1984 ở Làng Mai miền nam Pháp. Cho tới bây giờ tôi vẫn nghĩ đạo Phật và thầy Nhất Hạnh là những mầu nhiệm lớn nhất đến với cuộc đời tôi. Vô cùng biết ơn! Đúng như anh nói, gia đình tôi là một gia đình công giáo từ lâu đời, từ bao thế hệ. Nhưng điều đó không thể là một rào cản để tìm hiểu và học hỏi những nguồn tuệ giác khác. Thầy Nhất Hạnh có rất nhiều học trò ở Tây phương thuộc đủ mọi truyền thống tôn giáo khác biệt, và thầy vẫn khuyên mọi người học hỏi đạo Phật và quay trở về với cội rễ tâm linh của mình.        

Bởi vì ở Tây phương, đạo Phật không hẳn là một tôn giáo mà là một sự thực tập, một cách sống tỉnh thức. Phật học tây phương sử dụng sự thông minh, tinh thần học hỏi, nghiên cứu và óc tự do phê phán của mình, để đem áp dụng những điều mình học hỏi được vào trong đời sống hàng ngày của mình, để tháo gỡ những khổ đau bản thân, để giúp người khác. Giáo lý Phật giáo sâu sắc, độc đáo lắm !

.

NH: Anh có thể nói thêm về những lợi lạc chính bản thân anh đã thu thập được từ phép tu của Làng Mai và những gì người Việt hy vọng có thể tìm thấy khi áp dụng phương cách tu tập của Thầy Nhất Hạnh.

NTH: Một trong những pháp môn mầu nhiệm nhất của Phật giáo là từ bi. Có cả một vị bồ tát cho sự từ bi tên là Bồ Tát Quán Thế Âm. Từ là mang lại niềm vui cho người, Bi là giúp người vơi bớt khổ đau. Từ bi là lòng bao dung. Vì vượt trên tất cả vẫn là tình người, tình huynh đệ, tình đồng bào. Nên nhớ người Việt chúng ta là dân tộc duy nhất có tình đồng bào. Cùng một bọc trăm trứng. Là con cháu của một huyền sử, một thiên tình ca kỳ lạ giữa tiên và rồng, của người trời và vật linh. Chúng ta có thể tha thứ cho nhau, thương yêu nhau như anh chị em không? Hay chúng ta tiếp tục vu khống, chụp mũ, ‘nồi da xáo thịt’ ?!

Kẻ thù của chúng ta không thể là con người mà là sự thù hận, nghi kỵ, mù quáng, cuồng tín, bạo động. Chủ nghĩa nào, chế độ nào, chính quyền nào rồi cũng phải cáo chung, chịu sự tác động của luật vô thường. Tôi nghĩ đây là bài học lớn nhất của Phật giáo mà Thầy Nhất Hạnh đã học được, từ những đau khổ cùng cực của dân tộc trong bao nhiêu năm qua.  

Thầy Nhất Hạnh là một người yêu nước vô cùng sâu sắc. Vì thế thầy đã lập ra trường Thanh niên Phụng sự Xã hội trong lúc chiến tranh đang nóng bỏng, giúp đỡ tất cả mọi người dân cần sự giúp đỡ, không phân biệt chiến tuyến. Nhưng chính vì thế mà thầy bị cả hai phe quốc gia và cộng sản nghi kỵ. Thầy đã phải trả một cái giá rất đắt cho lập trường trung hòa đó và phải chịu sống lưu đày ở nước ngoài. Nhưng đó lại là cơ hội lớn để thầy truyền bá đạo Phật Việt Nam đến với thế giới, một nền Phật học đẹp như hoa sen được tôi luyện trong biển lửa. Thầy là một trong những người khai phóng ra nền phật học tây phương (westerse boeddhisme) rất mới mẻ. Đây là một truyền thống phật giáo vượt ra ngoài sự sùng tín của văn hóa Á đông, chú trọng đến sự thực tập cá nhân, rất gần gũi với khoa học hiện đại.    

Tôi thấy mình đặc biệt may mắn cũng là người Việt, có thể đọc được nguyên tác những tác phẩm của thầy. Thầy Nhất Hạnh đa tài, là một thiền sư, một học giả, một nhà sử học, một người tranh đấu cho hòa bình. Nhưng theo tôi, thầy trước tiên là một nghệ sĩ, một thi sĩ. Tác phẩm Đường xưa mây trắng kể về cuộc đời đức Phật là một ví dụ cụ thể. Bao nhiêu năm rồi, cứ vào mùa đông, tôi đều đọc lại tác phẩm này một lần.

.

NH: Anh đã có nhiều dịp tiếp xúc cá nhân với Thầy Nhất Hạnh, gần đây anh còn có dịp gặp Thầy nơi chùa Từ Hiếu. Kỷ niệm nào với Thầy đã làm anh xúc động nhất?

NTH: Mấy năm gần đây, tôi hay có cơ hội tới Huế, về thăm chùa tổ Từ Hiếu. Lần nào cũng được sư cô Chân Không ưu ái dẫn vào gặp riêng thầy Nhất Hạnh. Mỗi lần được đảnh lễ thầy, thì lòng tôi vô cùng xúc động. Thầy là người cha tâm linh.

Một buổi chiều cuối năm 2019, tôi cùng vài đệ tử đẩy xe đưa Thầy đi thiền hành vòng quanh khuôn viên chùa Từ Hiếu. Có một chú tiểu mặt mày khôi ngô đi theo. Mẹ cháu xuất gia, nên cháu nhỏ cũng được theo vào chùa. Chú tiểu đi bên cạnh sư ông, nghiêm trang nắm tay sư ông. Chúng tôi đứng im lặng trước một tháp tổ. Thầy đặt tay trên lớp tường cũ, chậm rãi và trân trọng. Và thầy mỉm cười với chú tiểu, nét mặt tươi tắn, hạnh phúc. Đó là hình ảnh rất đẹp về sư ông Nhất Hạnh mà tôi trân quý.

Sư ông Nhất Hạnh, sư cô Chân Không, chú tiểu và Nguyễn Thanh Hùng – Huế 9-4-2019

NH: Năm 2008 anh bắt đầu việc nuôi ong ở Hòa Lan như một công tác thiện nguyện để giúp những người gặp hoạn nạn ở Việt Nam. Động lực nào đã thúc đẩy anh theo con đường này?

NTH: Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp từ lâu đời. Do đó, tôi vẫn nghĩ rằng trong mỗi con người Việt có tiềm ẩn một người nông dân. Người cày thì phải có ruộng! Vào năm 1999, tôi cũng có như cầu học hỏi một điều gì mới lạ, để chào đón thế kỷ 21 sắp tới. Thế là tôi ghi danh học một khoá nuôi ong. Lúc đó nghề nuôi ong gần tàn mạt ở HL nên được bộ Nông Nghiệp tài trợ và khuyến khích. Chúng tôi phải chờ cho lớp có đủ học viên mới có thể bắt đầu. Lớp học toàn người HL có gốc nông dân, tôi là người ngoại quốc duy nhất và đầu tiên!

Khóa học giúp tôi biết nhìn kỹ cây cỏ, ong bướm trên đất nước HL, cho tôi cơ hội hiểu thêm được tâm hồn con người HL với văn hóa nông nghiệp, cái quan hệ giữa người và thiên nhiên ở vùng đất thấp dưới mặt biển này, một quan hệ vừa thân thiện vừa thù địch! Yêu thiên nhiên và quen chơi với côn trùng từ thuở nhỏ, nên tôi nuôi ong dễ dàng, không sợ hãi gì cả. Ong khỏe mạnh, chăm chỉ, mang về nhiều mật ong. Tôi trúng mùa liên tiếp, ăn không hết, tặng cũng không hết. Lúc đó cha Nico de Gooijer, một ân nhân của người tỵ nạn trại Bussum, mới kể cho tôi nghe về các hoạt động giải phẫu từ thiện của hội Child Surgery Vietnam. Thế là từ năm 2008, tôi bắt đầu bán mật ong để quyên tiền giúp cho hội.

Ngày mở cửa vườn ong – open dag Natuurtuin Rijswijk 19-7-2014

NH: Thế giới đang báo động về thảm họa tàn phá môi trường và biến đổi khí hậu. Anh thường xuyên tiếp cận với thiên nhiên, và trại ong của anh nằm trong một khu thiên nhiên. Anh có thể nêu ra một số bằng chứng cụ thể anh đã gặp trong nghề ong, có liên quan đến tình trạng này?

NTH: Tình trạng khí hậu thay đổi toàn cầu là điều không thể chối cãi. Trong lúc chúng ta đang ngồi nói chuyện đây (26-1-2021) một cuộc họp thượng đỉnh với chủ đề Thích ứng với biến đổi khí hậu đang diễn ra tại HL với sự tham dự của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thích ứng, chấp nhận chứ không còn là kiểm chứng, đối phó nữa. Trong 20 năm nuôi ong, tôi nhận thấy mùa đông giá lạnh gần như biến mất. Cây cối ra hoa sớm, mưa nắng thất thường. Mấy năm gần đây mùa hè nào cũng nhiều ngày trời rất nóng, nhiệt độ trên 30°C!

.

NH: Anh cố gắng nuôi ong và lấy mật một cách ít có hại cho thiên nhiên nhất và theo một số phương pháp dân gian của Hòa Lan. Như vậy mật của anh là một sản phẩm ‘bio’?

NTH: Một thực phẩm ở HL muốn được gọi là bio (sinh học) phải được kiểm định của tổ chức Kema. Cho tới nay chưa có một người nuôi ong nào đạt được danh hiệu này, đơn giản là vì HL là quốc gia có mật độ dân số quá lớn, không có chỗ đặt ong nào có thể cách xa đường cao tốc hơn 10 km! Theo tôi, mật ong có sinh học hay không tuỳ thuộc vào hai yếu tố: phương pháp nuôi ong và nguồn gốc mật hoa. Từ hơn 10 năm nay, tôi chỉ nuôi một giống ong nội địa, không lai tạo, không dùng hoá chất, và để ong phát triển tự nhiên, tôn trọng cá tính đặc thù của mỗi tổ ong. Tôi cũng không lấy hết mật ong mà để lại một số lượng lớn để ong sử dụng. Nhờ thế tình trạng sức khỏe các bầy ong ổn định, không bị bệnh, rất ít ve varroa (varroamijten: một loại ve sống ký sinh trên thân ong mật). Các tổ ong sống sót gần như tất cả qua mỗi mùa đông. Cùng với một số hội đoàn bảo vệ môi trường, chúng tôi đã vận động để thị xã Rijswijk cũng như Delft chính thức cam kết không dùng bất cứ thứ thuốc hóa học nào (insecticiden) để diệt trừ sâu bọ côn trùng từ năm 2017. Tuy không được danh hiệu ‘bio’, nhưng mật ong của tôi được nhiều người yêu thích, khen ngon và thơm!

.

NH: Từ khoảng 10 năm nay anh theo đuổi kế hoạch gây dựng cách nuôi ong theo thiên nhiên ở Pleiku, để giúp các trẻ mồ côi có được một tương lai tự tạo, và gây được lòng yêu thiên nhiên nơi chúng. So với ý tưởng ban đầu, anh thấy kế hoạch tiến triển theo như dự tính, tốt đẹp hơn dự tính hoặc gặp nhiều trở ngại? Lý do vì sao?

NTH: Ở Kontum cũng như Pleiku, tôi may mắn được cộng tác với các sơ công giáo dòng Saint Paul. Họ là những người làm việc rất giỏi, có óc tổ chức và quản lý, nhiệt tâm, hết lòng. Trong các cơ sở của nhà dòng, các em cô nhi người dân tộc được ăn uống đầy đủ, học hành và sinh hoạt thân thiện với nhau. Vùng Tây nguyên đất đai phì nhiêu, cây cỏ hoa trái nhiều nên rất thuận tiện cho việc nuôi ong lấy mật. Chúng tôi lại được nhiều bạn bè người Việt cũng như HL hỗ trợ nên dự án nuôi ong phát triển rất tốt đẹp. Khi mới bắt đầu lập trại ong, chúng tôi chỉ có chưa tới 10 tổ ong, nuôi trong những thùng xốp đựng trái cây. Bây giờ chúng tôi có tới 4 trại nuôi ong ở 4 chỗ khác nhau với gần 80 tổ ong. Năm vừa rồi chúng tôi thu hoạch được khá nhiều mật ong, phần lớn là mật hoa cà phê và hoa cao su.

Vì nạn dịch Covid nên tôi đã không về thăm các em và tiếp tục chỉ dẫn, nhưng tôi tin các em có đủ khả năng để chăm sóc các bầy ong và quản lý công việc của trại ong. Nhưng cũng phải nói là vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu cũng không tha vùng đất Tây nguyên: năm vừa rồi các cơn bão và lũ lụt đã gây nhiều thiệt hại. Còn mới đây nhất là đợt rét, rất lạnh. Trong nhà phải đốt củi để sưởi, các em bị lạnh, tối ngủ không được!

Với các em dân tộc Banar ở trại cô nhi Vinh Sơn 5, Kontum 25-10-2016

NH: Ở những vùng sâu vùng xa, điều kiện thiếu thốn, ý thức về vệ sinh của dân chúng có thể là một trở ngại trong việc nuôi ong lấy mật. Ngoài ra, ở Việt Nam, theo tôi, do chiến tranh kéo dài trong quá khứ, nhiều người không quen với cách suy nghĩ đường dài. Anh nhận định ra sao về những vấn đề này và anh đã giải quyết cách nào?

NTH: Ở Tây Nguyên thì những tiêu chuẩn vệ sinh không thể giống như bên này. Còn nhiều buôn làng người dân tộc ở những nơi thật sự là khỉ ho, cò gáy. Họ sống nghèo khổ, sơ khai… Đến thăm họ rồi về lại bên Âu châu, có khi tôi có cảm giác như từ sao Hỏa trở về trái đất!  

Bù lại, con người ở đó hiền lành, hồn nhiên, thân thiện. Họ không biết ăn cắp, nhà cửa để trống, đồ đạc để tự nhiên ngoài sân, ai cần thì mượn xong trả lại.  

Cách suy nghĩ ngắn hạn, muốn thu hoạch làm giàu mau chóng kiểu người… Kinh là một hiện tượng phổ biến toàn cầu, không nhất thiết ở Việt Nam. Vấn để bức bách nhất của thế kỷ 21 cho con người hiện nay là thảm họa biến đổi khí hậu mà nguyên nhân chính là nền kinh tế ngắn hạn dựa trên lợi nhuận, sự tiêu thụ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, và ô nhiễm do nhiên liệu hóa thạch. Chúng ta tiếp tục mua sắm ồ ạt và sản xuất đủ loại chất thải, không đoái hoài tới những thế hệ tương lai. Số lượng các chủng loại cây cối, côn trùng, thú vật bị tiêu diệt lên tới mức báo động… Vấn đề của toàn thể giới nhưng theo tôi, giải quyết phải được bắt đầu từ ý thức tự thân của mỗi cá nhân.

.

NH: Trong thời dịch Covid-19 hiện nay, anh làm sao duy trì được việc nuôi ong lấy mật và phân phối mật ở Hòa Lan? và nhất là việc theo dõi và hướng dẫn các em ở Pleiku đang học cách nuôi ong của anh?

NTH: Thời dịch Covid-19 có làm thế giới con người bị hạn chế nhiều mặt, sinh mạng bị đe dọa nhưng thế giới các loại côn trùng thì không có vấn đề gì. Ong vẫn bay đi ăn hoa, hút mật. Đến mùa xuân tôi vẫn được mời đem ong đến những vườn cây lê, táo, mận, anh đào để ong thụ phấn cho cây ăn trái. Năm nào cũng thế. Rồi mùa hè thu hoạch mật ong. Rất tiếc vì lockdown nên không thể mời các bạn bè người quen đến giúp quay mật, để cùng nếm mật ong mới. Còn ở Pleiku, các sơ và các em tự quản lý các tổ ong. Ở xa nên tôi chỉ thỉnh thoảng gọi điện thoại hỏi thăm mà thôi. Còn lại là ‘phó dâng’ và tin tưởng. Trại ong có thành công hay không là tuỳ thuộc ở các em. Để không bị mắc kẹt vào kết quả của dự án, công việc, cũng là một sự thực tập buông bỏ. Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên!

.

NH: Trong tương lai, anh có thêm những hướng đi nào, xin cho biết?

NTH: Bắt đầu từ năm nay, tôi xin được nghỉ hưu sớm. Thu nhập ít, sống đơn giản. Tôi thích châm ngôn sống của cụ Nguyễn Hiến Lê, đó là ‘đời sống vật chất thì dưới trung bình, nhưng đời sống tinh thần thì cao hơn một chút’. Đúng là ‘Vong bần lạc đạo’! Tôi yêu truyền thống ông đạo, một truyền thống rất hay của người Việt xưa.

Từ gần 20 năm nay, tôi làm thiện nguyện trong vườn thiên nhiên ở Rijswijk. Cách đây 2 năm chúng tôi chính thức thành lập hội Vườn thiên nhiên (stichting Natuurtuin Rijswijk) và năm nầy chuẩn bị xây một hội trường rộng hơn để mở rộng sinh hoạt. Cùng với một số thiện nguyện viên khác, chúng tôi hướng dẫn mỗi tuần rất nhiều lớp tiểu học về đủ mọi đề tài về thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Đó là một cách để trả ơn đất nước Hòa Lan đã cưu mang, là quê hương của các con tôi. Trong tương lai tôi muốn mở thêm những buổi tu tập về thiên nhiên với người lớn, Hoà Lan và Việt Nam. Như một tăng thân, cùng thực tập một ngày chánh niệm, vào mỗi chủ nhật, cùng ngồi thiền và đi thiền hành chung, chia xẻ kinh nghiệm tu tập.

.

NH: Thay mặt nhóm Phỏng vấn Thuyền nhân cám ơn anh đã dành thời giờ để trả lời những câu hỏi.

NTH: Cảm ơn anh Hiền đã cho cơ hội để nhìn lại 40 năm ở HL. Xin được đổi vị trí và xin đặt câu hỏi: Anh là người tham gia trực tiếp vào nhiều lãnh vực sinh hoạt của người Việt ở HL trong hơn 40 năm qua, đi nhiều biết nhiều, hoạt động nhiều. Thế bao giờ chúng tôi được đọc bài phỏng vấn về Nguyễn Hiền !?

.

Nguyễn Hiền

_________

Xem thêm:

– Một số truyện ngắn thơ của Nguyễn Thanh Hùng đã đã đăng trên www.caidinh.com

– Bài viết về trại nuôi ong của ông bà Nguyễn Thanh Hùng: Ngày giới thiệu nghề ong của Nguyễn Thanh HùngMột ngày với ông bà chủ trại ong người Việt ở Hòa Lan. Địa chỉ trại ong Dharma Nectar: Hazepad 5, 2287 DE Rijswijk.

Phóng sự của đài truyền hình Hòa Lan về hoạt động của Nguyễn Thanh Hùng giúp các trẻ mồ côi ở Việt Nam (2020 - tiếng Hòa Lan, 30 phút)

 

Direct link: http://www.caidinh.com/trangluu/phongvanthuyennhan/phongvannguyenthanhhung.htm


Cái Đình - 2021